CHIA SẺ TÂM LINH

CHIA SẺ TÂM LINH
Nhận thức & thực hành

HOẠT ĐỘNG CỦA NHÓM

HOẠT ĐỘNG CỦA NHÓM
Ý tưởng & thực hiện

SÁCH VÀ PHÁP THOẠI

SÁCH VÀ PHÁP THOẠI
Sách, CD & DVD

BÀI VIẾT VÀ SỰ KIỆN

BÀI VIẾT VÀ SỰ KIỆN
Sưu tầm & Chọn lọc

Một trong 5 đại tội

23-05-2013

Thưa thầy, con thấy trong kinh nói 1 trong 5 tội trọng nghiệp là giết 1 vị A La Hán, nhưng con cũng thấy kinh nói là trong kiếp cuối cùng vị A La Hán không thể bị chết vì bất cứ lý do ngoại cảnh nào. Vậy 2 điều trên có mâu thuẫn không ạ? Hay là điều thứ nhất muốn nói đến tạo tác của Ý - Khẩu - Thân muốn giết (chứ chưa giết được) 1 vị A La Hán thôi ạ.
Con đọc sách nên bất chợt xuất hiện câu hỏi này, mong thầy từ bi chỉ dạy ạ.

Trả lời:
Giết vị Alahán là phạm một trong 5 đại tội thì có, nhưng một vị Alahán vẫn có thể bị giết do nghiệp quả dư sót của chính vị ấy, trừ phi vị ấy đang nhập Thánh Quả Định hoặc Diệt Thọ Tưởng Định. Như Ngài Moggallana (Mục-kiền-liên) vẫn bị bọn cướp đánh chết, dĩ nhiên không do ngoại cảnh mà do chính nghiệp quả của ngài, tuy nhiên ngài bị giết về thân thôi chứ không chết, còn chết là do ngài nhập Niết-bàn.

trungtamhotong.org

Mọi thứ tự nhiên như nó vốn thế

Thầy kính mến, con giờ đã thấy cái bản ngã nó khởi sinh đánh giá hay phán xét một điều gì đó, thư giãn, chú tâm thì tâm lại tĩnh lặng nhìn mọi thứ đúng và bình an thầy ạ. Mọi thứ đến và đi như nó vốn thế, con chẳng còn muốn đi tìm một cái gì nữa, ngay cả suy nghĩ đây, những lời con viết ra cũng đang sinh và diệt, thật chẳng muốn bám víu vào đâu thầy ạ, may sao con biết tới Phật pháp không thì con mãi ngủ mơ mà không biết suốt cả đời.

Ngày đầu thiền tập khi giữ giới tốt con thấy hành thiền tốt vì tâm dễ chú tâm hơn, giờ con lại hiểu khi sống vô ngã vị tha, khả năng thiền cũng tốt hơn, con lại càng hiểu điều thầy nói. Con ngồi thiền khi cảm thấy cần thiết, chỉ xem tâm mình chất chứa thêm những gì và học cách thư giãn. Thiền tập và sống vô ngã vị tha bổ trợ cho nhau, không có khó khăn trong mối quan hệ ở đời thì chẳng thể học hỏi được gì thầy nhỉ! Người chửi mắng, đối xử không tốt với ta cũng là lúc ta học bài học cho tâm mình. Hạnh phúc trôi qua con người ta tiếc nuối và bắt đầu đau khổ và lại tìm kiếm hạnh phúc! Hạnh phúc và đau khổ cứ luẩn quẩn sinh và diệt như thế, con chợt nhận ra, hạnh phúc thật sự là coi đau khổ và hạnh phúc như nhau, chẳng còn tìm kiếm hay lẩn tránh gì nữa.

Sống vô ngã vị tha thật khó thầy ạ, chỉ chút mất tỉnh giác, chánh niệm cái bản ngã nó lại đưa ta đi quá xa. Con mong thầy thật nhiều sức khỏe, con cảm ơn thầy đã dạy cho con những bài học mà cả đời con sẽ luôn mang theo mình ạ!

Trả lời:
Mỗi lần đọc được những lời chia sẻ chân tình như vậy thầy rất hoan hỷ. Chúc mừng con đã biết trở về sống tuỳ duyên thuận pháp vô ngã vị tha! Chỉ những ai biết trở về sống trọn vẹn với thực tại chân như (sabhava) mới hiểu được thế nào là lẽ sống vô ngã vị tha và mới thấy đâu thật sự là niềm hạnh phúc an nhiên tự tại. Sàdhu lành thay!

trungtamhotong.org

Con cái nghĩ gì về cha mẹ

22-05-2013


Có một nhà thông thái đã nói lên những suy nghĩ trong mỗi giai đoạn của cuộc đời mình về cha mẹ như sau:

“Khi còn bé, tôi xem cha mẹ là tất cả. Cha mẹ là người có thể mang lại cho tôi mọi thứ, mọi điều. Tôi hoàn toàn tin tưởng ở cha mẹ mình; tôi luôn lắng nghe mọi lời dạy và sự chỉ bảo của cha mẹ, vì đối với tôi, bất cứ điều gì cha mẹ cũng biết. Vào mọi lúc, ở mọi nơi, tôi luôn nghĩ về cha mẹ.

Nhưng đến khi tôi mười lăm, mười sáu tuổi, tôi thấy cha mẹ không hoàn hảo như tôi đã nghĩ, bởi vì có nhiều điều cha mẹ không biết và có nhiều việc cha mẹ không làm được. Khi được mười tám tuổi, tôi vào đại học. Lúc đó tôi thấy rằng kiến thức của cha mẹ còn ít ỏi lắm, có nhiều điều cha mẹ chưa biết hoặc hiểu biết nông cạn, mơ hồ. Tôi thấy nhận thức hiểu biết và tài năng của mình đã vượt xa cha mẹ, tôi không còn cần sự giúp đỡ của cha mẹ nữa.

Những khi cha mẹ chỉ bảo điều gì hay đóng góp ý kiến cho tôi, tôi cảm thấy rất khó chịu và chẳng hề quan tâm. Đến lúc ra trường, đi làm, rồi lập gia đình, tôi thấy cha mẹ là những người già khó tính, bảo thủ, cố chấp; tôi nhận thấy giữa những người trẻ chúng tôi và những người già thật khó mà hòa hợp.

Thế là vợ chồng tôi quyết định ra sống riêng. Tôi thấy cha mẹ mình quá lỗi thời, cổ hủ, họ không hiểu gì về giới trẻ và cuộc sống hôm nay. Lúc nào cha mẹ cũng khắt khe, làm việc gì cũng cẩn trọng, giữ gìn ý tứ, phải đắn đo suy nghĩ, phải lập kế hoạch và thực hiện theo trình tự từng bước kỹ càng. 

Đến khi tôi ba mươi tuổi, khi đã làm cha của hai đứa con, lúc đó tôi mới phát hiện có những điều mà trước kia tôi không hiểu. Cha mẹ là cả một kho tàng kinh nghiệm mà tôi không nhận ra . Tôi thấy tuổi trẻ của mình nông nổi và bồng bột quá, luôn nóng nảy, hồ đồ và kém kinh nghiệm, nhận thức còn nông cạn. Lúc này tôi cũng thấm thía những nỗi nhọc nhằn vất vả của bậc làm cha mẹ.

Mỗi ngày tôi đều bận rộn, căng thẳng, mệt nhọc với công việc kiếm ra tiền để nuôi sống gia đình, với công việc chăm sóc và dạy dỗ con cái. Bấy giờ tôi mới hiểu được tình yêu thương vô bờ bến mà cha mẹ dành cho con cái, dù vất vả, dù gian khổ cha mẹ vẫn không nề hà.

Kể từ bây giờ tôi không còn vô tâm nữa, tôi thường xuyên về thăm cha mẹ, đưa các con tôi về viếng ông bà, tôi luôn dạy chúng về lòng hiếu thảo. Đến năm tôi gần năm mươi tuổi thì cha mẹ tôi qua đời. Lúc đó dù không còn trẻ nữa nhưng tôi đã khóc rất nhiều, vì tôi hiểu rằng kể từ đây cha mẹ không còn ở trên đời nữa, dù tôi có tiếc thương cũng đã muộn màng, dù tôi muốn đáp đền công ơn cha mẹ cũng không còn cơ hội nữa.

Tôi thấy ân hận vô cùng vì đã có lúc mình nghĩ sai về cha mẹ, những người đã tạo ra tôi, đã nuôi tôi khôn lớn thành người, xây dựng nhân cách cho tôi, đã dạy dỗ và truyền trao những kinh nghiệm hiểu biết cho tôi, để tôi trở thành người có ích cho xã hội”.

Có lẽ mọi người đều nghĩ về cha mẹ mình như nhà thông thái nói trên. Trong mỗi giai đoạn của cuộc đời, người ta có những suy nghĩ khác nhau về cha mẹ, nhưng đến khi trải qua “mấy chặng đường đời” nhọc nhằn, gian khó, đến khi đã làm cha làm mẹ rồi thì mới biết nỗi lòng của các đấng sinh thành, mới hiểu trọn vẹn về cha mẹ. Đúng như lời người xưa đã nói, “có nuôi con mới biết công ơn cha mẹ”, hay văn vẻ hơn, “Ở đời ai cũng có lần, làm cha mẹ mới biết ơn sinh thành. Mẹ cha khó nhọc nuôi mình, khác chi mình đã hết tình nuôi con”.

Tuổi trẻ ngày nay năng động, nhạy bén, có nhiều điều kiện học tập, rèn luyện, trau giồi để trở thành những con người có tài năng và bản lĩnh trong xã hội. So với các thế hệ trước thì thế hệ hôm nay có hoàn cảnh sống tốt hơn, do đó có thể nói có những điều tuổi trẻ hôm nay vượt xa ông cha mình ngày trước. Nhưng điều đó không có nghĩa là những người trẻ có thể xem thường thế hệ ông cha mình. Người trẻ vẫn cần phải học tập ở những thế hệ trước rất nhiều, từ nhân cách đạo đức đến kinh nghiệm sống mà mình chưa từng trải qua vì tuổi đời còn non trẻ. Người trẻ cũng phải luôn nhớ rằng dù thế hệ sau có tiến xa hơn các thế hệ trước thì sự tiến xa đó cũng là xây dựng trên nền tảng của ông cha mình.

Chắc chắn là không ai có thể quên rằng nhờ đâu mà mình có mặt trên cõi đời này, nhờ đâu mà mình có được cuộc sống hôm nay, nhờ đâu mà mình trở thành người có ích cho xã hội. Dù cha mẹ chúng ta là những người giàu sang danh vọng hay bần cùng khốn khổ, dù cha mẹ chúng ta là những người trí thức có trình độ hay mù chữ, không có văn hóa, thì đó vẫn là những người sinh ra chúng ta và nuôi dưỡng chúng ta trưởng thành khôn lớn. Hãy luôn nghĩ về điều đó để chúng ta thật sự là những đứa con đúng nghĩa đáng tự hào.

Giữa người già và người trẻ có một khoảng cách cần có sự cảm thông và chia sẻ. Chính khoảng cách thế hệ là một trong những nguyên nhân khiến cho ông bà, cha mẹ già bị con cháu “bỏ rơi”, phải sống trong cô đơn buồn tẻ, thiếu sự quan tâm chăm sóc, thiếu thốn tình thân.

Do sinh ra và lớn lên, sống trong thời đại, trong hoàn cảnh xã hội khác nhau nên mỗi thế hệ đều có quan niệm nhận thức, nếp suy nghĩ, có những thói quen, lối sống khác nhau, từ đó giữa người già và người trẻ thường xảy ra những mâu thuẫn. Các bậc ông bà cha mẹ thường cho rằng con cháu thiếu kinh nghiệm, nông cạn, không biết tôn trọng người lớn, tự do thái quá, sống dễ dãi, phóng túng, đôi khi ích kỷ, vô ơn. Con cháu thì cho rằng người già khó tính, bảo thủ, cố chấp, cổ hủ, lạc hậu, đôi khi trái tính trái nết.

Trong xã hội hiện đại, khi cuộc sống ngày càng bận rộn,  mọi người phải dành nhiều thời gian cho công việc, nên người già thiếu sự quan tâm của con cháu. Thêm vào đó khoảng cách thế hệ làm cho họ ngày càng xa dần con cháu. Xã hội chưa có chế độ chăm lo cho người già, vậy các bậc ông bà cha mẹ biết trông cậy vào đâu khi đến tuổi xế chiều nếu không nương tựa vào con cháu?

Con cháu nên thông cảm cho ông bà cha mẹ già, nên hiểu đặc điểm của tuổi già: Về thể chất, mắt mờ, tai điếc, hay quên, dễ nhầm lẫn, đi đứng chậm chạp không còn vững vàng, sa sút trí tuệ, thường phát sinh bệnh tật. Về tâm lý, dễ tổn thương, hay giận hờn, nhớ rất kỹ chuyện xa xưa nhưng hay quên những chuyện vừa mới xảy ra, hay buồn bã, ngại giao tiếp, hay than thân trách phận, hay oán trách người khác…

Nếu có tình thương và sự hiểu biết, có đạo đức trách nhiệm, biết cảm thông chia sẻ, biết dung hòa để sống chung thì những mâu thuẫn giữa ông bà cha mẹ và con cháu sẽ được hóa giải, khoảng cách thế hệ sẽ không còn. Một điều người trẻ nên nhớ là tuổi già cũng sẽ đến với mình như ông bà cha mẹ bây giờ. ■

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo 136  |  PHAN MINH ĐỨC

Bước vào sự thinh lặng

21-05-2013


Ngày xưa tôi có xem một cuốn phim với tựa đề “Into the Great Silence.”  Đây là một cuốn phim tài liệu về đời sống trong tu viện cổ Grande Chartreuse trên vùng núi Alps ở Pháp.  Cuốn phim quay lại những sinh hoạt hằng ngày trong hoàn toàn thinh lặng của các tu sĩ thuộc dòng tu kín Carthusian.

Người đạo diễn của cuốn phim đã phải sống trong tu viện nửa năm, và chỉ quay phim bằng ánh sáng của thiên nhiên.  Và để tránh ảnh hưởng đến đời sống thinh lặng của các tu sĩ, ông ta không được phép tiếp xúc, nói chuyện với bất cứ ai trong tu viện, và cũng không được mang theo một người nào khác trong đoàn làm phim.

Lẽ dĩ nhiên là sự thinh lặng trong tu viện không phải hoàn toàn tuyệt đối.  Cũng có lúc các vị tu sĩ nói chuyện và phát biểu, như trong các buổi lễ, khi sinh hoạt chấp tác, hay vào mỗi cuối tuần khi cùng đi dạo bên ngoài.  Nhưng tinh yếu của sự thực tập vẫn đặt trên nền tảng của một sự thinh lặng.

Cuốn phim mở đầu bằng một cảnh mùa đông, khi cả vùng núi Alps và tu viện phủ tuyết trắng xoá, vạn vật như đông đá.  Giữa khung cảnh thinh lặng, ngồi trong tu viện nhìn ra khung cửa sổ, ta dường như nghe được âm thanh của từng bông tuyết rơi.  Trong thinh lặng, ta có thể cảm nhận được sự có mặt của những sự kiện tầm thường chung quanh mình, một cách thật sâu sắc.  Thời gian từ tốn xoay không gian, tiếng cây lá chuyển mùa, giọt nước đá tan trên cỏ, áng mây trôi ngang qua, bầu trời khuya vụn vỡ ngàn sao… tất cả đều đang vận hành tự nhiên trong một thế giới lặng yên.

Điều ta cần lắng nghe là chính mình
Cuộc sống hằng ngày của chúng ta, so với cuốn phim ấy, là một thế giới hoàn toàn khác hẳn.  Những bận rộn chung quanh khiến ta không có thì giờ để ngồi yên, để thật sự tiếp xúc được với những gì đang có mặt.

Trên con đường đi, bạn có bao giờ nghe được âm thanh của một chiếc lá rơi, hay một khuya bước qua cửa sổ chợt dừng yên nhìn sân cỏ trước nhà ngập ánh trăng...  Thật ra, trong cuộc sống ngày nay chúng ta ít khi có cơ hội để sống với thinh lặng, mà tôi nghĩ dẫu có đi chăng nữa, ta có khả năng tiếp xúc được với nó chăng?

Tôi được nghe một người quen kể rằng có lần anh đi ăn trưa với một người bạn.  Anh chọn một quán ăn nhỏ vắng người, để hai người có dịp nói chuyện.  Trong tiệm ít khách, chỉ có những âm thanh hỗn tạp bình thường của tiếng chén dĩa trong nhà bếp, tiếng máy tính tiền, vài người khách nói chuyện ở dãy bàn bên kia, tiếng nhạc êm nhẹ…  Bất chợt điện trong phòng bị cúp!  Không gian chung quanh như đứng dừng hẳn lại, căn phòng đột nhiên trở nên im phăng phắc một cách lạ kỳ.  Anh bạn nói, sự thinh lặng bất chợt ấy thật khó chịu và như điếc cả tai!  It’s deafening!

Nhưng giây phút ấy đã khiến anh chợt dừng lại và ý thức được rằng, sự ồn ào trong cuộc sống đã giúp chúng ta tạm làm khỏa lấp một khoảng trống trong chính mình.  Có lẽ vì vậy mà người ta lại thường tìm cách trốn tránh sự yên lặng, để khỏi phải đối diện với một sự trống vắng trong ta…
Tôi nhớ có một đoạn trong cuốn phim, vào một ngày cuối tuần đi ra ngoài, họ cùng ngồi với nhau bàn thảo về một vài nghi thức trong buổi lễ ban sáng.  Một vị tu sĩ phát biểu, “Không phải mục đích của những biểu tượng là để chúng ta tìm hiểu về ý nghĩa của chúng, mà chính ta mới là điều cần phải được tìm hiểu.”  Thật ra, những lễ nghi hình thức chung quanh chỉ để giúp ta quay lại và thấy ra được chính mình mà thôi.  Các tu sĩ ấy không hề đặt câu hỏi về sự thinh lặng, mà chính sự thinh lặng đã đặt ra câu hỏi về chính họ.

Và bạn cũng đừng nghĩ rằng thinh lặng có nghĩa là ta không làm gì cả, mà khi ta có một sự thinh lặng, ta sẽ tiếp xúc được với những yếu tố mầu nhiệm tự nhiên đang có mặt chung quanh mình, với một cái nhìn sâu sắc.

Vẫn là nhiệm mầu

Nhưng mầu nhiệm không có nghĩa là sự việc sẽ xảy ra theo ý mình muốn, mà mầu nhiệm có nghĩa là vì nó trong sáng tự nhiên.  Có thể đối với ta thì trời xanh mây trắng mới là mầu nhiệm, nhưng đối với người khác có thể trong cuộc đời họ đang cần một ngày mưa mát.  Một buổi sáng bước ra ngoài, dưới nắng ấm, thân ta vui khoẻ, hoặc một chiều bước chân ở sở về, tâm ta đầy những lo lắng và mệt mỏi.  Cả hai giây phút ấy có thật sự là nhiệm mầu như nhau không bạn hả?

Tôi nhớ có một vị thiền sư thường ca ngợi giây phút hiện tại nhiệm mầu.  Có một thiền sinh phát biểu, trong giây phút này anh ta đang gặp những vấn đề khó khăn và có nhiều đau đớn, đời sống đâu có gì là nhiệm mầu?  Vị thiền sư đáp, tuy cuộc sống có những lúc khó khăn, không dễ chịu, nhưng nó vẫn là nhiệm mầu.  It’s not pleasant, but it’s still wonderful!

Nó nhiệm mầu là vì ta vẫn có điều kiện để tiếp xúc được với thực tại, để thấy được những gì thật sự đang xảy ra, để buông bỏ những dính mắc của mình, để thấy sự vận hành của pháp, để biết được sự có mặt của tuệ giác và tình thương chung quanh ta.  Mà tất cả những điều ấy chỉ có thể xảy ra trong giây phút này mà thôi!

Thênh thang như bầu trời
Hạnh phúc không phải là vì sự việc xảy ra theo ý mình, mà do ở thái độ buông xả của ta.  Trong một khoá tu tôi được học một bài kệ về hạnh phúc, và tôi vẫn thường thầm ghi nhớ nó vào mỗi buổi sáng, trưa, chiều, tối, trong những ngày bên ngoài nhiều mưa gió hoặc vào những hôm trời đầy nắng ấm.

Mong cho trong tôi không có sự thù nghịch nào
Mong cho tâm tôi được an vui và hạnh phúc
Mong cho thân tôi được an ổn và nhẹ nhàmg
Mong cho tôi được thảnh thơi

Nhưng bạn cũng đừng nghĩ đó là một sự mong cầu nào hết, vì mục tiêu của nó là cả một bầu trời rộng mênh mông!  Thật ra những lời kệ ấy không phải là một sự tập luyện hay mong muốn nào mà chỉ để nhắc nhở cho ta có một thái độ buông bỏ, và trở về lại với những gì trong lành đang có mặt sẵn trong ta.

Hãy buông bỏ đi những khổ đau không cần thiết, vì trong ta không có một sự thù nghịch nào, chỉ là an vui và hạnh phúc, là an ổn và nhẹ nhàng.  Mỗi niệm như một mũi tên buông thả, bay thong dong vào bầu trời cao rộng thênh thang, nơi nào nó đến cũng là mục đích.  Vì trong một sự tĩnh lặng lớn mọi việc đều có mặt trong sáng và tự nhiên.


Nguyễn Duy Nhiên
nguyenduynhien.blogspot.com

Đạo lý về nhân quả nghiệp báo


Nghiệp báo đóng một vai trò rất quan trọng trong giáo lý nhà Phật. Tuy nhiên chúng ta nên nhớ rằng Đức Phật thuyết minh nghiệp lý không phải với mục đích khuyến khích làm điều kiện để hưởng thụ hạnh phúc trong cõi cực lạc, thiên đường, nhưng để giúp con người thoát khỏi dòng nghiệp báo triền miên (kammakkhayya).

Nhiều người lầm tưởng nghiệp là triết lý chung cho hầu hết các tôn giáo Đông phương, nhưng thực ra chủ trương và lý giải của họ có ít nhiều sai khác, hoặc có khi cũng khác biệt hoàn toàn. Một số học giả Tây phương ngộ nhận cho rằng nghiệp đồng nghĩa với thuyết định mệnh. Trong khi một số khác chủ trương nghiệp mang sắc thái xã hội học và sinh vật học. Sở dĩ có những ngộ nhận như thế vì người ta chỉ đọc qua một số sách báo nói về nghiệp mà không nghiên cứu giáo lý chính thống được truyền bá qua kinh điển nguyên thủy của Phật Giáo.

Trước hết chúng ta phải định nghĩa thế nào là nghiệp, vì đó là mấu chốt giúp chúng ta phân biệt được nghiệp lý theo nhà Phật và theo các giáo lý khác… Như vậy, nghiệp ở đây được dùng để chỉ những hành động cố ý hay hành động có chủ ý mà thuật ngữ Abhidhamma gọi là tư tâm sở hay tư tác (cetanā). Những hành động này có thể là thiện hay bất thiện, khi thực hiện qua thân gọi là thân nghiệp, qua khẩu gọi là khẩu nghiệp, qua ý gọi là ý nghiệp.

Mỗi người đều phải chịu trách nhiệm về hậu quả của những hành động thiện hay ác này, dù kết quả đó tốt hay xấu, vui hay khổ. Nghiệp quả này có thể xuất hiện trong kiếp sống hiện tại, kiếp kế cận hay bất cứ kiếp sống nào trong tương lai tùy theo tiềm lực của chúng. Cũng có khi nghiệp quả trở thàmh vô hiệu, vì chúng quá yếu ớt, không có đủ điều kiện, hay nói theo danh từ chuyên môn là không đủ duyên để hiện khởi.

Nếu phân tích chi tiết hơn chúng ta thấy nghiệp được phân loại theo bốn cách:

1. VỀ PHƯƠNG DIỆN CÔNG TÁC có bốn loại nghiệp:
a) Sinh nghiệp (janaka-kamma):
Là nghiệp lực chi phối sự tái sinh. Thức tái sinh (patisandhi vinnāna) bị chi phối bởi nghiệp nầy, và danh uẩn (nāma khandha), sắc uẩn (rūpa khandha) đầu tiên tùy thuộc vào sinh nghiệp này. Sinh nghiệp cũng trải dài suốt kiếp sống của một chúng sanh từ khi sinh ra cho đến chết. Ví dụ do sinh nghiệp mà một chúng sinh tái sinh trong một kiếp làm người, chư thiên hay loài thú.

b) Trì nghiệp (upatthambhaka-kamma):
Là nghiệp lực duy trì sự sinh tồn hay thọ mạng của một chúng sanh từ khi mới sinh cho đến lâm chung. Ví dụ, thiện trì nghiệp giúp cho một người được hưởng hạnh phúc và bất thiện trì nghiệp làm cho đời sống người ấy đau khổ trong kiếp sống của họ. Nếu không có trì nghiệp một chúng sinh có thể chết ngay từ lúc mới sinh.

c) Chướng nghiệp (upapīlaka-kamma):
Khác với trì nghiệp, chướng nghiệp làm trở ngại sinh nghiệp khiến cho đời sống đang bình thường bỗng gặp khó khăn. Ví dụ một người đang mạnh khoẻ bỗng gặp tai nạn trở nên tàn tật, hoặc một người đang thông thái thế mà sau một cơn bệnh bỗng trở nên khù khờ dại dột.

d) Đoạn nghiệp (upaghātaka-kamma):
Nghiệp nầy có khả năng cắt đứt sinh nghiệp. Ví dụ như một vị tổng thống đang sống rất an lành hạnh phúc bỗng bị ám sát chết một cách ngờ. Người ta thường gọi đó là bất đắc kỳ tử.

Bất đắc kỳ tử không phải do định mệnh hay số phận, cũng không phải oan uổng mà chính vì đoạn nghiệp của một người quá mạnh khiến cho kiếp sống bị đứt đoạn nữa chừng.


2. VỀ PHƯƠNG DIỆN NĂNG LỰC CỦA QUẢ BÁO có bốn loại nghiệp:
a) Cực trọng nghiệp (garuka-kamma):
Là nghiệp lực rất mạnh, nếu là nghiệp ác cực mạnh như giết cha, giết mẹ, giết Alahán, chia rẽ Tăng hoặc gây thương tích cho Đức Phật thì sẽ sa đọa vào địa ngục vô gián nên còn gọi là vô gián nghiệp. Nếu là nghiệp thiện cực mạnh như đắc được các bậc thiền định thì được sinh lên các cõi trời hữu sắc hoặc vô sắc.

b) Cận tử nghiệp (āsannaka-kamma):
Là nghiệp tạo lúc lâm chung. Nghiệp này có thể là hành động, lời nói, ý nghĩ hay là phản ứng của tâm khi nhớ lại những nghiệp đã làm lúc sanh tiền ngay trong giây phút hấp hối. Có 3 hiện tượng xuất hiện trong giờ phút lâm chung là:

- Nghiệp (kamma): người đang hấp hối có thể thấy lại một nghiệp nào đó đã làm trong lúc sinh tiền, như người hung ác có thể thấy lại hành động sát hại của mình, người lương thiện có thể thấy hành động bố thí...

- Nghiệp tướng (kammanimitta): lúc lâm chung người ta có thể thấy một vài chi tiết nổi bật nào đó trong nghiệp đã làm, như người sát sinh thường thấy vũ khí hoặc máu me, người có tín tâm thường thấy điện thờ hoặc trầm hương nghi ngút...

- Thú tướng (gatinimitta): người sắp chết có thể thấy trước cảnh giới mà người ấy sẽ tái sinh vào. Như người thường làm phước thiện sẽ thấy cõi chư thiên, trái lại người thường làm điều ác sẽ thấy cảnh địa ngục. Chữ thú (gati) ở đây có nghĩa là hướng đi tái sinh. Thiện thú (sugati) là hướng các cõi thiện như cõi trời, người. Ác thú (duggati) là hướng các cõi ác như cõi ngạ quỉ, súc sanh.

Cận tử nghiệp rất quan trọng trong việc tái sinh, một người có thể làm nhiều việc thiện nhưng ngay khi chết nhớ lại một điều ác nào đó rồi sanh vào cảnh khổ. Trái lại một người làm nhiều điều ác nhưng lúc lâm chung giữ được tâm niệm lành thì vẫn được sanh vào nhàn cảnh. Tuy nhiên những hành động thiện hay ác kia vẫn phải trả quả sau đó hoặc được tích trữ cho đến khi đủ duyên sẽ trổ quả bất cứ lúc nào.

c) Tập quán nghiệp (ācinna-kamma):
Là nghiệp thường tạo tác trong đời sống hàng ngày của chúng ta và nó đã trở thành tập quán. Nghiệp nầy có thể thiện hoặc bất thiện. Bất thiện như người đồ tể có thói quen sát sanh, người ác khẩu có thói quen chưởi mắng. Thiện như người tu hành có thói quen niệm Phật, nhà từ thiện có thói quen ban phát. Do đó, nếu là tập quán bất thiện dù nhẹ cũng rất nguy hiểm cho sự tiến hoá. Trái lại nếu là tập quán thiện thì dù nhỏ cũng đem lại nhiều kết quả lợi ích.

d) Tích lũy nghiệp (katattā-kamma):
Là những nghiệp lực còn tàng trữ trong vô thức (bhavanga) chưa đến lúc trổ quả vì chưa hội đủ cơ duyên hay điều kiện thuận tiện. Chính vì nghiệp nầy chưa trả quả mà nhiều người nghĩ rằng kẻ làm ác không bị quả báo. Câu nói:"Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo, nhược hoàn bất báo, thời thần vị đáo"(thiện ác đều có báo ứng, nếu chưa báo ứng chỉ là do thời giờ chưa đến) có thể giải thích được điều nầy.


3. VỀ PHƯƠNG DIỆN THỜI GIAN BÁO ỨNG nghiệp được chia làm bốn loại:
a) Hiện báo nghiệp (ditthadhammavedanīya-kamma):
Là những nghiệp có hậu quả ngay trong kiếp hiện tại. Như một người biển lận công quỉ bị tịch biên tài sản, hay một kẻ sát nhân bị bắn chết tại hiện trường. Tuy vậy cũng khó nói được chính xác nghiệp nào có quả hiện tại vì đôi khi đó là quả của nghiệp quá khứ do duyên tương đồng mà trổ quả chứ không phải là quả của nghiệp hiện tại. Điều nầy cần chiêm nghiệm kỹ bằng trực giác để cảm nhận hơn là phán đoán bằng lý luận.

b) Sanh báo nghiệp (upapajjavedanīya-kamma):
Là những nghiệp đem lại hậu quả ngay trong kiếp sau. Như một người kiếp nầy thường bố thí cúng dường kiếp sau sinh ra được giàu sang tôn quí, trái lại một người trộm cắp gian xảo kiếp sau bị khốn khổ nghèo hèn. Tích xưa có một người tỳ nữ vừa mới dâng cúng Đức Phật một cành hoa mướp với tâm vô cùng hoan hỷ thì trên đường về bị bò húc chết, ngay khi đó được sinh làm tiên nữ trên cõi trời với dung sắc tuyệt mỹ không vị tiên nữ nào sánh kịp. Đó là sanh báo nghiệp.

c) Hậu báo nghiệp (Aparāpariya vedanīya-kamma):
Nếu nghiệp chưa được trả quả trong kiếp hiện tại hay trong kiếp kế cận, thì sẽ cho quả trong bất cứ một kiếp nào về sau khi hội đủ điều kiện. Đôi khi một nghiệp đã được trả quả trong hiện tại hoặc kiếp sau nhưng dư âm của nó vẫn còn gây hậu quả trong nhiều kiếp sau đó cũng gọi là hậu báo nghiệp. Trong trường hợp một người lương thiện nhưng khi lâm chung vì một chướng duyên đã khởi tâm bất thiện, do cận tử nghiệp đó phải tái sanh vào cõi khổ trong kiếp sau, vì vậy những nghiệp lành của người nầy trở thành hậu báo nghiệp. Trái lại một người thường tạo nghiệp bất thiện nhưng khi lâm chung nhờ một thiện duyên đã khởi tâm lành có thể tái sanh vào nhàn cảnh nên những nghiệp ác của người ấy sẽ trổ quả trong những kiếp bất định về sau.

Đó là lý do tại sao một vài đạo sĩ khi thấy một chúng sinh làm ác sau khi thân hoại mạng chung vẫn được sinh vào nhàn cảnh và kết luận rằng không có kết quả của hành động thiện ác. Thật ra, vì họ chỉ thấy được một vài kiếp sống chứ chưa chứng kiến được toàn diện hiện tượng nhân quả nghiệp báo.

e) Vô hiệu nghiệp (ahosikamma):
Là những nghiệp đáng lý có kết quả trong kiếp hiện tại hay kiếp sau, nhưng không hội đủ điều kiện để trổ quả nên trở thành vô hiệu. Ví dụ một vị thánh A-na-hàm sau khi viên tịch sinh lên cõi trời sắc giới rồi từ đó đắc quả A-la-hán, và sẽ nhập diệt tại đó chứ không trở lại cõi người, nên dĩ nhiên là những nghiệp chưa kịp trả quả trở thành vô hiệu. Nhất là trường hợp Đức Phật và các vị Alahán, những nghiệp lực yếu ớt còn dư sót không chi phối được các Ngài.


4. VỀ PHƯƠNG DIỆN CẢNH GIỚI nghiệp cũng được chia làm 4 loại:
a) Dục giới bất thiện nghiệp (kāmāvacara akusala-kamma):
Là những nghiệp tạo tác với tâm bất thiện ở cõi dục nên trả quả trong bốn ác đạo: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu-la hoặc làm người trong tình trạng bất hạnh. Đó là những nghiệp: sát sanh, trộm cắp, tà hạnh, nói dối, nói chia rẽ, nói lời ác, nói vô ích, tham lam, sân hận và tà kiến.

b) Dục giới thiện nghiệp (kāmāvacara-kusala-kamma):
Là những nghiệp tạo tác với tâm thiện ở cõi dục nên trả quả ở sáu cõi trời dục giới, ở đó được hưởng đời sống an lạc dưới hình thức chư thiên, hoặc trả quả làm người được sống hạnh phúc. Những nghiệp này là phóng sanh, bố thí, tiết dục, chân thật, nói hòa hợp, nói ái ngữ, nói hữu ích, không tham, không sân và chánh kiến.

c) Sắc giới thiện nghiệp (rūpāvacara-kusala-kamma):
Là thiện nghiệp thuộc các bậc thiền định hữu sắc, như những người đắc từ sơ thiền đến tứ thiền hữu sắc, sau khi thân hoại mạng chung sẽ được hưởng quả trong mười sáu cõi sắc giới thiên. Ở đó phạm chúng sống rất an tịnh, tạm thời không bị các nhân tham, sân và si chi phối.

d) Vô sắc giới thiện nghiệp (arūpāvacara-kusala-kamma):
Là thiện nghiệp thuộc các bậc thiền định vô sắc, như những người đắc thiền không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ, sau khi lìa cõi dục được sinh lên bốn cõi vô sắc giới thiên, trong đó đời sống rất vi tế, thanh tịnh và tự tại, các vị chư thiên ở đó sống rất lâu nhưng đến khi quả báo không còn hiệu lực, họ cũng phải trở lại dục giới chịu những quả vui khổ họ đã tạo trước kia.

Như vậy nghiệp là một định luật nhân quả công bằng, trong đó có tự do và trách nhiệm, khác hẳn với thuyết định mệnh cho rằng con người phải chịu số phận mà tạo hoá đã định sẵn, họ không có quyền tự do quyết định vận mệnh của mình. Và dĩ nhiên như thế con người không cần phải chịu trách nhiệm về mọi hành động cá nhân, vì trách nhiệm đó đã có Trời Đất gánh vác.

Nếu nói rằng đạo Phật không nêu cao nhân vị thì quả thật quá sai lầm vì trong nghiệp lý con người được hoàn toàn tự do hành động và chịu trách nhiệm về sự tự do của mình. Trái lại, chính thuyết thiên mệnh mới xem thường nhân vị con người, vì theo đó con người phải luôn luôn tuân thủ thiên ý nếu không sẽ bị trừng phạt, chứ không có quyền tự quyết. Nếu được quyết định thì cũng phải thuận theo thiên ý nên con người không bao giờ được bình đẳng với Trời Đất. Đạo Phật không những tôn trọng nhân vị mà còn cố gắng nâng nhân vị đó lên Phật vị một cách hoàn toàn bình đẳng.

Thông suốt được tác động vận hành nhân quả của nghiệp tức là đã đắc đệ nhị minh (dutiyā vijjā) trong tam minh (tiso vijjā): Túc mạng minh, sinh tử minh hay thiên nhãn minh và lậu tận minh mà đức Phật đã chứng ngộ trong đêm thành đạo. Khi ấy tâm của Ngài nghiêm tịnh, thanh khiết, vô nhiễm, thoát ly khỏi các lậu hoặc, nhu nhuyến, thích ứng, chánh trực và tự tại. Ngài chuyên chú vào hiện tượng sinh tử của chúng sanh và với thiên nhãn thuần tịnh Ngài thấy chúng sanh có kẻ cao thượng người thấp hèn, kẻ xinh đẹp người xấu xa, kẻ hạnh phúc người khốn khổ, sinh sinh tử tử tùy theo nghiệp lực của họ...

Trích bài viết ĐẠO LÝ VỀ NGHIỆP
Tỳ khưu Viên Minh & Tỳ khưu Khánh Hỷ

Cám ơn bạn nhé - pháp Sân


Cảm ơn bạn nhé - pháp Sân
Mỗi khi bạn đến mình liền thấy ngay
Nơi đây đầu, ngực bừng bừng
Nơi đây tâm cũng hừng hừng những sân
Ta sân, người xấu thấy lầm
Loay hoay tà kiến oán người trách ta
Sân kia không thấy như là
Nấp trong tự ngã âm thầm gia tăng
Nào đâu bứt rứt chẳng an
Quay lại mà thấy nào còn có ai
Ngay nơi chính nó hiển bày
Ngay nơi chính nó ra đi không lời
Bình tâm rồi thấy thật hay
Thì ra Sân - Bạn đến đi mất rồi.
Xin chào còn gặp lại nhau
Lần sau gặp bạn nhớ là Sân thôi
Không còn nhân - ngã Sân ơi
Bạn chỉ là bạn đến rồi hiểu nhau
Hiểu rồi chẳng thấy bạn đâu
Thì ra bạn đến dạy tôi học à
Học ra bài học đang là
Ngay nơi thực tại pháp là pháp sân.
Cảm ơn bạn nhé, pháp Sân
Cảm ơn bạn nhé, pháp Sân, xin chào!

Người đệ tử nên thận trọng

20-05-2013


Con xin kính chúc thầy mạnh khỏe với khí trời mùa xuân của châu Mỹ! Thưa thầy con có câu chuyện này xin thầy chỉ bày thêm vì ý nghĩa rất hay mà lời lẽ thì khó nghe, con xin sám hối! SỰ THƯƠNG YÊU CỦA NGƯỜI THẦY VÀ SỰ Ù LÌ CỦA NGƯỜI ĐỆ TỬ.

Tình thương yêu của người thầy hướng đến cho người đệ tử đầu tiên lúc nào cũng cảm mến như người chủ chăn bò, phải dẫn dắt đến chỗ cỏ non tươi tốt để nó có thể có bữa ăn ngon cùng khí trời tươi mát, dẫn dắt thế này...bằng mọi cách phải tránh xa nhưng nơi hiểm trở núi đồi của cuộc đời. Và dần dần sự thương yêu đó làm người đệ tử đang trải nghiệm cuộc sống như con bò đang cùng những bãi cỏ xanh, cũng vì sự tận tình của người thầy... dần dần sự linh hoạt của con bò lại trở thành sự lười biếng, ù lì... nói nó cũng chẳng nghe, chỉ khi nó đói, tới bữa thì ăn, đầy đủ thì nó ngủ, ỷ lại người chủ (người thầy).

Thế rồi người đệ tử xa dần cái mà người thầy muốn chuyển tải đến đệ tử. Thế nên con thấy: người đệ tử nên thận trọng với sự bảo bọc này, nếu không thì thành sự ù lì mà không hay. THẾ CHO NÊN KHI THUẬN LÀ NGHỊCH, KHI NGHỊCH LÀ THUẬN PHẢI KHÔNG THƯA THẦY? Xin thầy chỉ dạy thêm cho con! Con xin cám ơn THẦY!

Trả lời:
Tình thương của người thầy đối với đệ tử có nhiều loại: 1) Thương yêu chỉ vì hay để đệ tử tuân phục mình. 2) Thương yêu bảo bộc và nuông chiều quá đáng làm đệ tử hư hỏng. 3) Thương yêu để lấy lòng đệ tử hoặc để thu phục nhiều đồ chúng. 4) Thương yêu nhưng chỉ khai tâm cho đệ tử biết tự giác, biết trải nghiệm khó khăn, biết nhẫn nại, tinh cần và sáng tạo... Còn đệ tử cũng có nhiều loại: 1) Đệ tử chỉ biết tuân phục theo khuôn mẫu của thầy. 2) Đệ tử ù lì vì ỷ lại vào thầy. 3) Đệ tử chỉ biết lấy lòng thầy. 4) Đệ tử biết tự giác, nhẫn nại, tinh cần và sáng tạo đúng pháp chứ không rập khuôn. Vậy cũng còn tuỳ cách thương yêu của thầy và cách học tập của tử chứ không phải thầy nào cũng thương yêu sai hay trò nào cũng ù lì cả đâu, phải không con?

trungtamhotong.org

Công ty HSC tài trợ dự án Ánh Sáng Từ Trái Tim

Xin chia sẻ với tất cả các bạn một tin vui: Công Ty Cổ Phần Chứng Khoán TP HCM HSC đã quyết định tài trợ 100 triệu đồng cho dự án Ánh Sáng Từ Trái Tim của nhóm yenlang.net. Trong buổi tiệc kỷ niệm 10 năm thành lập vào tối 16/05/2013 vừa qua,  ban lãnh đạo công ty HSC đã chính thức trao phần tài trợ này cho bác sỹ Thu Ba, trưởng khoa mắt quốc tế của bệnh viện An Sinh. Cùng lên nhận phần tài trợ này có Pháp Thuận, đại diện nhóm yenlang.net, và chị Thu Hà đại diện cho nhóm Thu Hà, những người chịu trách nhiệm lựa chọn và xác minh các bệnh nhân nghèo được mổ mắt miễn phí.

Từ trái sang: Ông Johan Nyvene - CEO của công ty HSC, Pháp Thuận, bác sỹ Thu Ba, chị Thu Hà

Qua giới thiệu của bạn Thường Nhuận Phương Lan, công ty HSC đã tham gia ủng hộ dự án lịch từ thiện 2013 của yenlang.net, đặt mua 700 cuốn lịch. Sau đó nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập, ban giám đốc công ty được thuyết phục về sự hiệu quả cụ thể của chương trình Ánh Sáng Từ Trái Tim nên đã có quyết định nói trên.

Ngoài phần tài trợ cho dự án Ánh Sáng Từ Trái Tim, công ty HSC cũng tài trợ 100 triệu đồng cho Trung Tâm Giá Trị Cuộc Sống. Điều này nói lên sự quan tâm đặc biệt của ban lãnh đạo công ty HSC với các hoạt động mang tính cộng đồng. Xin chân thành cám ơn công ty HSC về tấm lòng và sự giúp đỡ ấm áp này.

Từ trong bệnh viện suy tư


Ở trong bệnh viện hằng trăm tiếng đồng hồ suốt hai năm qua để chăm sóc vợ bị ung thư, Mike Keller chia sẻ những suy nghĩ của ông về chuyện chết của chúng ta.

Vợ tôi mắc phải một căn bệnh ung thư quái ác cách đây hai năm và vẫn còn đang nằm điều trị tại Trung tâm Điều trị ung thư MD Anderson ở thành  phố Houston, bang Texas. Tôi đã ở bên cạnh vợ tôi hàng trăm tiếng đồng hồ trong bệnh  viện này. Sau cùng, dù muốn dù không tôi bắt đầu nhìn thấy một cách rõ ràng một số sự thật về chuyện chết của chúng ta.

Thái độ của con người trong bệnh viện này rất khác thường. Chúng ta không thể thấy bất kỳ một sự đụng chạm hay xích mích nào vào bất kỳ một thời điểm nào giữa các bệnh  nhân, những  người chăm sóc họ và các nhân viên bệnh  viện. Người ta rất lịch sự và rất quan tâm đến   nhau.  Đã  hai  năm nay, tôi chưa từng bao giờ nghe  một giọng nói giận dữ  nào  bên  trong  bệnh viện này. Giữa những phòng  chờ của bệnh viện ở nơi nào khác, ta có thể thấy không khí buồn rầu, ủ rũ, không ai buồn nói chuyện với ai, nhưng ở đây thì khác, bệnh  nhân và những  người chăm sóc họ nói chuyện với nhau đầy vẻ quan tâm và lo lắng, lắng nghe chuyện bệnh hoạn của nhau, vui vẻ tránh ra nhường  chỗ cho người khác đang ngồi trong những chiếc xe lăn kềnh càng, khen nhau có áo quần đẹp, và nói chung là đối xử với nhau bằng lòng thương  yêu, mối quan tâm, và sự quý trọng.

Khi tôi đã cảm nhận được thái độ rất đặc biệt của mọi người bên trong bệnh viện này thì tôi có thể dễ dàng tìm ra lý do tại sao người ta lại đối xử với nhau tốt như vậy. Những người ở trong bệnh  viện này ý thức được một điều về chính họ và về những người chung quanh họ mà bình thường  chúng ta không ý thức được. Ung thư là bệnh nan y; chữa trị không được thì sớm muộn gì bạn cũng sẽ ra đi. Trong bệnh  viện chuyên điều trị ung thư này, mọi người đều nhận thức rõ rằng họ và những người khác rồi cũng sẽ chết. Không ai sống mãi được.Theo tôi, chính nhận thức đó về tử nghiệp chung của chúng  ta đã khiến cho những  người trong  bệnh viện quý trọng, quan tâm và thương yêu nhau.

Một thời gian sau, tôi có thêm một nhận thức khác liên quan đến nhận thức trên đây. Một hôm, khi tôi đang đi vào quán ăn của bệnh viện, tôi để ý nhìn một người đàn ông, có vẻ như là một người nuôi bệnh  khỏe mạnh; bỗng một ý nghĩ về người đàn ông này nảy sinh trong đầu tôi, “Người này rồi cũng  ra đi”.  Ý tôi muốn nói anh ta rồi cũng sẽ chết. Đối với tôi, nhận thức này là một bất ngờ làm cho tôi sửng sốt. Đơn giản là vì trước đây tôi chưa bao giờ nhìn một con người khỏe mạnh với một cách nhìn như thế. Đi vào sâu hơn  trong  quán  ăn, tôi nhìn nhiều  người giữa hàng  chục người trong đó, và ý nghĩ mới này  về  từng  người  tôi  nhìn thấy lại nảy sinh trong đầu tôi:

Anh này hay chị này rồi cũng sẽ ra đi. Ý thức rằng một người khác, dù đang ở trong hoàn cảnh nào đi nữa, rồi cũng sẽ chết, là một ý thức sâu sắc. Về một mặt nào đó ý thức này có vẻ sâu sắc hơn ý thức mà tôi nghĩ những người trong bệnh viện có được. Hình như là ý thức về tử nghiệp chung của chúng ta là một chuyện và ý thức một cách rõ ràng về cái chết sẽ đến của một cá nhân cụ thể mà mình gặp lại là một chuyện khác.

Dù sao đi nữa, ý thức về chuyện chết trong tương lai của từng con người cụ thể cũng bắt tôi phải suy nghĩ về chuyện sẽ chết của bản thân tôi và dĩ nhiên là của vợ tôi nữa. Tôi cảm thấy rất buồn. Tôi thích sống và người vợ hoạt bát nhanh  nhảu của tôi cũng vậy. Đối với tôi, phải rời bỏ cuộc sống này là một điều rất đáng  tiếc. Nhưng khi nghĩ rằng chuyện chết là một phần đương nhiên của đời sống thì tôi cũng cảm thấy được an ủi phần nào. Bất cứ chúng sinh nào cũng phải chết, cho dù đó là con người, con sóc, cái cây, con nhện hay con chim. Thật ra hai từ “sống” “chết” khiến người ta hiểu lầm. “Sống” không phải là một tiến trình kết thúc bằng một tiến trình khác gọi là “chết”. “Sống” đơn giản là một tiến trình duy nhất và tiến trình này bao gồm “chết”. Chúng ta nên quan niệm sống-chết  là một tiến trình mà thôi; và nếu chúng ta có được một từ duy nhất để chỉ tiến trình này thì mọi chuyện dễ hiểu hơn nhiều. Chúng ta có thể thử cấu tạo một từ đơn bằng những từ có gốc La-tinh, chẳng hạn như “vivamor” được ghép từ “vivere” có nghĩa là “sinh”“mori” có nghĩa là “tử” trong  ngôn  ngữ La-tinh. Bây giờ chúng  ta có thể nói rằng mỗi chúng sinh đều đang trải qua “vivamor”, một tiến trình “sinh-tử”, chỉ một tiến trình thôi.

Xin cầu cho mọi chúng sinh có được một “vivamor” (cuộc sinh-tử) hạnh phúc.

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 124 | MIKE  KELLER | NGUYỄN  VĂN  NGHỆ dịch

Tỉnh thức dưới cái nhìn khoa học

18-05-2013


Mới đây, Daniel Gilbert (tác giả quyển sách tuyệt vời có tựa là “Stumbling on Happiness”) và Matthew Killingsworth, học trò của ông, đã đưa ra một nghiên cứu khẳng định điều mà tất cả chúng ta vẫn hoài nghi, rằng về mặt tâm thần, hầu hết chúng ta đã làm lãng phí phần lớn thời gian của đời người.

Hóa ra là có tới gần phân nửa thời gian, chính xác là 46,9%, người ta làm cái việc được gọi là “suy nghĩ vẩn vơ”. Họ không chú ý đến cuộc sống bên ngoài hay công việc đang làm, mà họ lại tìm hiểu chính những suy nghĩ của mình. Tiếc thay, việc nghiên cứu trên 2.250 người cho thấy đa phần các hoạt động  này không làm cho con người cảm thấy hạnh phúc.

Cuộc nghiên cứu đã được thiết kế với mục đích tìm hiểu xem người ta đã có những hoạt động như thế nào trong suốt một ngày, và hoạt động nào khiến họ hạnh phúc  nhất. “Suy nghĩ vẩn vơ” chỉ là một trong số 22 hoạt động mà họ có thể liệt kê.

Các nhà nghiên cứu thấy rằng con người hạnh phúc nhất khi họ có quan hệ tình dục, tập thể dục, hoặc trò chuyện. Họ cảm thấy ít hạnh phúc khi nghỉ ngơi, làm việc, hay sử dụng một máy điện toán cá nhân.

Người ta cho biết rằng họ nghĩ ngợi vẩn vơ không dưới 30% thời gian, trong tất cả mọi việc trừ lúc đang có quan  hệ  tình  dục. Nhưng điều  oái oăm  là người ta lại cho biết họ cảm thấy không hạnh phúc khi suy nghĩ vẩn vơ. Chúng ta tiêu tốn gần phân nửa thời gian cho cái việc không làm cho mình hạnh  phúc! Chẳng trách có rất nhiều truyền thống tâm linh và tôn giáo cố khuyến dụ con người “sống trong hiện tại”.

Chẳng hiểu có phải việc người ta suy nghĩ vẩn vơ hóa ra lại là một dấu hiệu dự báo về hạnh phúc tốt hơn so với những  hoạt  động  thực tế mà người ta can dự vào hay không. Hãy chỉ nghĩ về một ngụ ý của khám phá này, rằng nó giải thích tại sao địa ngục trần gian với người này lại có thể là thiên đường với kẻ khác, nếu họ thấy mình tập trung vào công việc.

Tỉnh thức và não bộ
Một cuộc nghiên cứu năm 2007 với chủ đề “Mindfulness meditation reveals distinct neural modes of self-reference” (tạm dịch: “Thiền tỉnh thức mở ra một chế độ hoạt động thần kinh khác biệt của sự tham chiếu”), do Norman Farb cùng với sáu nhà khoa học khác tiến hành tại Đại học Toronto, đã đặt nền móng cho sự hiểu biết của chúng ta về sự tỉnh thức từ quan điểm của khoa thần kinh học.

Farb và các đồng nghiệp của ông đã tìm ra biện pháp nghiên  cứu xem con người trải nghiệm  từng khoảnh khắc của mình  như thế nào. Họ phát hiện rằng con người tương tác với thế giới bên ngoài theo hai cách hoàn toàn khác nhau, bằng cách sử dụng hai hệ thống khác nhau. Một hệ thống nhằm trải nghiệm cuộc sống của chính mình  liên quan đến điều  được gọi là “hệ thống mặc định”, bao gồm phần giữa vỏ não trước trán (medial prefrontal cortex), cùng với các vùng trí nhớ như đồi hải mã (hippocampus).

Gọi là mặc định vì hệ thống này hoạt động khi không có việc gì khác xảy ra và con người đang nghĩ về chính mình. Giả sử bạn đang ngồi trên mép cầu tàu vào một ngày hè, có một làn gió nhẹ thổi qua mái tóc và bạn đang cầm một ly bia lạnh trong tay; thay vì đón nhận một ngày mới tươi đẹp, có thể bạn thấy mình đang nghĩ về việc sẽ nấu món gì cho bữa ăn tối nay, và liệu bạn có cần phải phí sức để làm vui lòng người bạn đời của mình hay không. Đấy là khi hệ thống  mặc định của bạn đang hoạt động. Nó liên quan đến việc lập kế hoạch, mơ mộng và ngẫm nghĩ.

Hệ thống mặc định ấy cũng hoạt động khi bạn nghĩ về bản thân hoặc về người khác, nó kết hợp những suy nghĩ ấy thành  một “mẩu chuyện”. Một mẩu chuyện là một dòng dữ kiện có các nhân vật tương tác với nhau theo thời gian. Não bộ lưu trữ những kho thông tin cực lớn về quá khứ của bạn và của những người khác. Khi hệ thống mặc định được kích hoạt, bạn sẽ suy nghĩ về cả quá khứ lẫn tương  lai và tất cả những  người bạn biết, bao gồm cả bản thân bạn, cũng như cái cách mà tấm thảm thông tin khổng lồ ấy đan kết lại với nhau. Vì thế, trong nghiên cứu của Farb, họ gọi hệ thống  mặc định này là mạch “kể lể”.

Khi bạn trải nghiệm cuộc sống thông qua hệ thống kể lể này, bạn  tiếp nhận  thông  tin từ cuộc sống bên ngoài, xử lý nó thông qua một bộ lọc để xem mọi thứ có ý nghĩa gì, và đưa thêm vào sự giải thích của bạn. Đang ngồi ở cầu tàu mà mạch kể lể hoạt động, thì làn gió mát không phải là một làn gió mát, mà là dấu hiệu cho thấy mùa hè sẽ đến sớm hơn; điều này khiến bạn bắt đầu suy nghĩ về nơi trượt tuyết, và liệu bộ đồ trượt tuyết của bạn có cần phải được lau khô hay không.

Hầu hết  thời gian khi ta tỉnh thức, hệ thống mặc định tự hoạt động mà không cần nỗ lực để được vận hành. Thực ra hệ thống này không có gì sai trái cả, vấn đề ở đây là ta không muốn tự giới hạn vào việc chỉ trải nghiệm cuộc sống qua hệ thống này.

Nghiên cứu của Farb cho thấy có một  cách hoàn toàn khác để trải nghiệm cuộc sống. Các nhà khoa học gọi nó là một dạng kinh nghiệm trực tiếp. Khi hệ thống kinh nghiệm  trực tiếp  hoạt  động, một  số vùng  não khác nhau trở nên linh hoạt hơn. Các vùng này trước hết có thùy đảo (insula), khu vực liên quan  đến  việc nhận biết các cảm giác của cơ thể. Phần trước của vành đai vỏ não (anterior cingulate cortex), là trung khu điều chỉnh sự chú ý, cũng được kích hoạt.

Khi hệ thống kinh nghiệm trực tiếp này hoạt động, bạn sẽ không suy nghĩ về quá khứ hoặc tương lai, về người khác hoặc về chính mình; và bạn cũng không ngẫm nghĩ nhiều. Thay vào đó, bạn sẽ tiếp nhận thông tin dựa vào những cảm giác thực tại. Khi ngồi trên cầu tàu, bạn sẽ chú ý đến sự ấm áp của ánh nắng tác động trên làn da, cơn gió mát luồn qua mái tóc, và ly bia lạnh đang nằm trong tay.

Một loạt các nghiên cứu khác đã cho thấy rằng hai mạch  này, kể lể và kinh nghiệm  trực tiếp, có tương quan nghịch chiều. Nói cách khác, nếu bạn nghĩ về một cuộc họp sắp tới trong khi đang rửa bát đĩa, rất có khả năng bạn sẽ không để ý tới mảnh thủy tinh vỡ và sẽ bị đứt tay, vì khi hệ thống  kể lể được kích hoạt thì trung khu thần kinh thị giác của bạn sẽ kém linh hoạt. Bạn sẽ không nhìn thấy, nghe thấy, hoặc cảm thấy bất cứ điều gì một cách rõ ràng khi bạn chìm trong suy nghĩ. Điều đáng buồn là trong trạng thái ấy, ngay cả hương vị của một ly bia cũng trở nên nhạt nhẽo.

May mắn  thay, kịch bản  này tác động ở cả hai hướng. Khi bạn  chú tâm  vào các dữ kiện sắp xảy ra, chẳng  hạn  như  cảm  nhận  được  nước  lan trên  bàn tay trong khi rửa mặt, sự linh hoạt của mạch kể lể sẽ giảm. Điều này giải thích tại sao, ví dụ, nếu mạch kể lể của bạn đang làm bạn lo lắng phát điên về một sự kiện căng thẳng  sắp tới, sẽ rất có ích nếu bạn hít thở một hơi thật sâu và tập trung vào thời điểm hiện tại. Lúc đó, mọi giác quan của bạn sẽ “trở nên sống động” hơn.

Nói tóm lại, bạn có thể trải nghiệm  thế giới thông qua mạch kể lể, vốn hữu ích cho việc lập kế hoạch, ấn định mục tiêu, và hoạch định chiến lược. Bạn cũng có thể trải nghiệm thế giới một cách trực tiếp hơn, cho phép nhận  biết  nhiều  thông  tin cảm  giác hơn. Trải nghiệm  cuộc sống thông  qua hệ thống  kinh nghiệm trực tiếp cho phép  bạn tiến gần hơn tới thực tại của mọi sự kiện. Bạn tiếp nhận được nhiều thông  tin hơn về các sự kiện xảy ra quanh mình; cũng như các thông tin về những  sự kiện ấy trở nên chính xác hơn.

Việc chú ý nhiều hơn đến các thông  tin thực tại khiến bạn linh hoạt hơn trong cách phản ứng với cuộc sống. Bạn cũng trở nên ít bị giam hãm hơn trong nhà tù của quá khứ, của các thói quen, của những mong đợi hoặc giả định; và khả năng ứng phó của bạn với các sự việc khi chúng xuất hiện cũng sẽ tốt hơn.

Trong thí nghiệm  của Farb, những  người thường xuyên thực tập việc chú tâm đến hai cách nhận thức, qua kinh nghiệm trực tiếp và qua hệ thống  kể lể, như những  người  hành  thiền  thường  xuyên  chẳng  hạn, có sự phân  biệt rõ rệt hơn giữa hai cách này. Vào bất kỳ lúc nào, họ cũng biết được mình đang sống theo cách  nào, và có thể chuyển đổi giữa hai cách  một cách  dễ  dàng…

Trong  khi đó,  những  người  không thực  hành  việc chú  tâm  đến  hai  cách  trải  nghiệm này có khả năng  tự động  sống theo  cách kể lể hơn. Điều này không chỉ là lý thuyết. Nghiên cứu của Kirk Brown cho thấy những người ở nấc thang cao hơn của sự tỉnh thức nhận biết rõ hơn về quá trình vô thức của họ. Hơn nữa, họ kiểm soát  nhận  thức tốt  hơn và có nhiều khả năng hơn trong việc diễn đạt những  gì họ làm và nói, so với những  người ở các nấc thang thấp  hơn của sự tỉnh thức.

Nếu bạn  đang  ngồi trên cầu tàu lộng gió và bạn là người ở mức độ tỉnh thức cao, có thể bạn sẽ nhận ra mình đang bỏ lỡ một ngày tươi đẹp để lo lắng cho bữa tối; ngay đó, bạn sẽ chú tâm vào sự ấm áp của ánh mặt trời. Khi bạn thay đổi sự chú ý của mình, bạn thay đổi sự vận hành của bộ não, và điều này có thể tạo ra một ảnh hưởng lâu dài đến cách hoạt động của não bộ.

Tại sao chúng ta cần phải luôn nhớ tỉnh thức
John Teasdale là một  trong  những  nhà nghiên cứu hàng đầu về sự tỉnh thức. Ông giải thích, “Tỉnh thức là một kỹ năng, một thứ mà khi càng thực hành người ta càng dễ dàng đạt đến mặc dù chẳng cần cố gắng nhiều… Đó là một kỹ năng có thể học hỏi được. Đó là việc tiếp cận một thứ mà ta có sẵn. Sự tỉnh thức không phải là việc khó. Cái khó là nhớ rằng cần phải tỉnh thức”.

Thực tập, nhưng bạn không cần phải ngồi xuống và hít thở
Như vậy, việc thực tập sự tỉnh thức là điều  quan trọng, đến nỗi từ nay có nhiều khả năng bạn sẽ nhớ đến việc ấy. Chìa khóa để thực hành sự tỉnh thức là chỉ thực hành tập trung sự chú ý của bạn đến những gì mình đang làm, những gì đang xảy ra xung quanh bạn, và hãy thường xuyên làm như vậy. Sẽ hữu ích hơn nếu bạn sử dụng một nguồn dữ kiện phong  phú.

Bạn có thể dễ dàng đặt sự chú ý vào cảm giác của bàn chân trên sàn nhà hơn là chú ý vào cảm giác của ngón út của bạn trên sàn nhà, vì với cả một bàn chân, bạn có nhiều dữ liệu hơn để khai thác so với chỉ một ngón út. Bạn có thể thực tập sự tỉnh thức trong khi bạn đang ăn, đang đi bộ, đang  nói chuyện, hay đang  làm những  việc lặt vặt. Ngoại trừ việc uống một ly bia dưới ánh mặt trời ấm áp, vì khi ấy, sự tỉnh thức chỉ có tác động trong một khoảng thời gian hạn chế trước sự chú ý của bạn bị hòa tan vào men bia.

Tạo dựng thói quen tỉnh thức không có nghĩa là bạn phải ngồi yên và dõi theo  hơi thở. Bạn có thể tìm ra một cách thực tập phù hợp với lối sống của mình... Càng tỉnh thức hơn, bạn càng có những quyết định thích hợp hơn, và bạn sẽ càng thành tựu những  mục tiêu của chính mình hơn, chứ không phải là những mục tiêu mà người khác đặt ra cho bạn.

Và, càng tỉnh thức hơn, bạn càng ít suy nghĩ vẩn vơ hơn, đồng thời, bạn cũng sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn.

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 124 |ĐỖ   HOÀNG  TÙNG dịch

Có ai buồn không?

17-05-2013


Ai cần không, tôi gánh hộ nỗi buồn 
Gánh nỗi cô đơn, hong đầy dưới nắng 
Gột rửa khổ đau, suối ngàn bất tận 
Để một ngày..bỗng nhẹ bẫng đôi vai

Có ai buồn không, ai cô đơn không? 
Xin gió ấm thổi từ miền phúc lạc 
Xin niềm vui đến rộn ràng ngõ xóm 
Cho mắt người ấm áp những nụ cười

Đường đời dù chật, lòng người thênh thang 
Nỗi buồn dù lớn cũng thành bé nhỏ 
Nếu bạn buồn, hãy san cho tôi nhé 
Tay tôi đây, bạn hãy nắm chặt vào…  
Như Hải 6/5/2013

Thái độ vs Trạng thái


Kính thưa thầy,
Trong 1 bài giảng, thầy có giảng là ta nên thay đổi thái độ thay vì thay đổi trạng thái. Con chưa hiểu chỗ này. Ví dụ: mình đang bực bội, nên mình có thái độ cư xử gắt gỏng, khó chịu, vì vậy khi thay đổi trạng thái từ bực bội sang vui vẻ thì thái độ mình mới trở lại hiền hòa. Như vậy thì mình thay đổi trạng thái rồi mới thay đổi thái độ. Trong khi Thầy giảng là nên thay đổi thái độ.

Theo con nghĩ thái độ nghĩa là hành động bên ngoài, mình thay đổi từ tâm trạng bên trong rồi mới ra bên ngoài được chứ ạ? Thầy hoan hỷ giảng giải cho con thêm chỗ này.

Trả lời:
Con nói ngược với thầy rồi! Thái độ là nhân, trạng thái là quả, thay đổi nhân thì quả mới thay đổi, đúng không? Thí dụ một học sinh lười học (thái độ nhân) nên có điểm thấp (trạng thái quả). Vậy muốn điểm cao thì thay đổi thái độ học trước hay thay đổi điểm trước? Bực bội, vui vẻ, hiền hoà... đều có thể là nhân, có thể là quả.

Nếu là nhân thì đó là thái độ, nếu là quả thì đó là trạng thái. Trạng thái thì không có hành động, chỉ thái độ mới có hành động. Thay đổi thái độ tức thay đổi chủ ý của hành động, và đó mới là một hành động. Thực ra vấn đề là ở chỗ có hiểu đúng cách dụng ngữ của người nói thì mới hiểu được người nói muốn nói gì.

trungtamhotong.org

Ngây thơ & Không hiểu biết

16-05-2013


“Không hiểu biết” “ngây thơ” cũng có chỗ giống nhau nhưng chúng không phải là một. Ignorance là tình trạng không biết, giống như ngây thơ. Nhưng có một khác biệt lớn mà cả nhân loại đến bây giờ cũng không biết. Ngây thơ là không có kiến thức nhưng không hề khao khát có được kiến thức. Ngây thơ tự nó tròn đầy ý nghĩa.

Một đứa con nít không có tham vọng, không có ước vọng. Nó luôn luôn sống hết mình trong từng khoảnh khắc sống của nó… Một con chim bay qua, đứa trẻ nhìn không chớp mắt; hay chỉ thoáng thấy một con bướm màu sắc đẹp cũng đủ để đứa trẻ hát ca. Với một cái cầu vổng trên trời, đứa trẻ sẽ ngây ngất như không còn biết điều gì huy hoàng hơn nữa. Cũng cảm giác như thế đến với trẻ con, khi chúng nhìn thấy trăng sao vằng vặc trong đêm tối mênh mông.

“Ngây thơ vô nhiễm” là tinh khiết, là tràn đầy, là giàu có. “Không hiểu biết” là nghèo nàn, là ăn xin… là tôi muốn điều này, tôi muốn điều kia, tôi muốn được hiểu biết, tôi muốn được kính trọng, tôi muốn được giàu sang, tôi muốn được quyền lực.

Không hiểu biết (ignorance) đi trên con đường của khát khao. Ngây thơ vô nhiễm (innocence) là trạng thái không hề khao khát. Nhưng bởi vì cả hai trường hợp cùng là tình trạng không có kiến thức (knowledge) nên chúng ta thường lầm lẫn và qui kết rằng chúng cũng như nhau.

Bước đầu tiên trong nghệ thuật sống là nhìn thấy cái ranh giới phân biệt giữa cái không hiểu biết (ignorance) và sự ngây thơ vô nhiễm (innocence). Sự ngây thơ vô nhiễm phải được cũng cố và bảo vệ, bởi vì đứa trẻ được sinh ra với sự ngây thơ nghĩa là với một kho báu lớn, cái kho báu mà các nhà thông thái phải đi tìm cả đời với nỗ lực nhọc nhằn. Các minh sư thường nói rằng họ đã trở lại trẻ thơ một lần nữa, họ đã được tái sanh.

Ở Ấn Độ, một người Bà-la-môn thực sự, nghĩa là một người hiểu biết thực sự, tự gọi mình là Dwij, nghĩa là được sinh hai lần. Tại sao lại được sinh hai lần? Cái gì đã xảy ra trong lần sinh thứ nhất? Tại sao cần phải có lần sinh thứ hai? Lần sinh thứ hai ông ấy được gì? Trong lần sinh thứ hai ông ấy lấy lại tất cả những cái ông ta đã có trong lần sinh thứ nhất, những cái mà cha mẹ, xã hội, và tất cả những người xung quanh đã hủy diệt và triệt tiêu chúng.

Trẻ con đang bị nhồi nhét đầy ắp những kiến thức. Cái đơn thuần và trong sáng vì thế bị cướp mất, lí do là ai cũng biết cái đơn thuần không giúp được gì cho đứa trẻ trong cái xã hội cạnh tranh này. Một đứa trẻ đơn thuần (simple) thường bị coi là ngốc nghếch, và đứa trẻ ngốc nghếch sẽ bị cuộc đời lợi dụng và bóc lột. Sợ hãi xã hội, sợ hãi thế giới, chúng ta tự thay đổi mình để thích ứng và cũng muốn làm cho trẻ con trở thành thông minh, sắc sảo, đầy kiến thức, để chúng được hội nhập vào thế giới quyền lực mạnh mẽ, chứ không để chúng rơi vào sự yếu kém hay bị áp bức. Và một khi đứa trẻ lớn lên sai định hướng, nó sẽ tiếp tục con đường sai lầm đó, cả cuộc đời nó sẽ tiếp tục bị sai lầm.

Bất cứ khi nào bạn thấy rằng dường như bạn đã đánh mất cuộc sống, nguyên tắc đầu tiên là tìm lại sự ngây thơ (innocent).

Buông kiến thức xuống, quên hết kinh điển đi, quên tôn giáo đi, quên thần học và triết lí đi, trở lại ngây thơ… và điều này bạn có thể làm được, bằng cách: Tẩy sạch tâm trí của bạn, tẩy sạch tất cả những gì không phải là bạn, tẩy sạch tất cả những gì vay mượn, tất cả những gì thuộc về truyền thống, qui ước, tất cả những gì thuộc về người khác như cha mẹ, thầy giáo, trường đại học… tẩy sạch, vất tất cả. Một lần nữa ta trở nên đơn thuần.

Đời sống là khám phá, chứ không phải là tham vọng để trở thành cái này cái nọ, như trở thành tổng thống một quốc gia, một thủ tướng, một bộ trưởng. Sống là để tìm ra “Tôi là ai?”. Một điều rất lạ lùng là người ta thường không biết mình thực sự là ai, lại mong muốn trở thành một người như thế nào đó. Người ta không biết mình là ai ngay trong hiện tại, không quen thuộc với chính hiện hữu của mình nhưng bao giờ cũng muốn trở thành cái gì đó!

Trở thành một cái gì (becoming), đó là căn bệnh của tâm hồn. Hiện hữu (being) mới chính là bạn.
Ngay lúc khám phá ra hiện hữu của mình thì đời sống bắt đầu. Rồi thì cứ mỗi khoảnh khắc sống của ta là một khám phá mới mẻ. Bất cứ một khoảnh khắc nào cũng là một niềm vui. Cánh cửa bí mật đã mở, tình yêu mới đâm chồi, đam mê mới xuất hiện, cảm xúc mới về cái đẹp, cái tốt. Bạn trở thành thật nhạy cảm, chỉ một cạnh sắc của lá cỏ cũng đem đến vô vàn cảm giác. Sự nhạy cảm làm cảm giác bạn rõ ràng đến mức dù là hiện hữu của chỉ một lá cỏ cũng bằng như hiện hữu của một vì sao; không có lá cỏ này hiện hữu dường như thiếu đi; và bởi vì lá cỏ này là duy nhất không có gì thay thế cho nên nó có riêng tính cá thể của nó.

Sự nhạy cảm sẽ tạo nên nhiều tình bạn. Tình bạn với cỏ cây, với chim muông, với thú vật, với núi đồi, với sông suối, với đại dương và với cả những vì sao. Đời sống trở thành giàu có hơn vì tình yêu lớn dậy, vì tình bạn lớn lên.

Cuộc đời của thánh Francis đầy những chuyện đẹp. Ngài thường phải đi trên một con lừa đây đó để chia sẻ những thể nghiệm của mình. Vị thánh sắp chết. Tất cả đệ tử vây quanh để nghe lời cuối của ngài. Lời cuối của một vị thầy luôn luôn là điều gì tiêu biểu nhất vì nó chứa toàn bộ kinh nghiệm sống của thầy. Nhưng các đệ tử không tin rằng mình đã nghe một điều như thế! Thánh Francis không nói gì với các đệ tử mà vấn an con lừa của ngài. Vị thánh nói: “Người anh em, tôi vô cùng mang ơn người anh em. Người anh em đã mang tôi đi khắp mọi nơi mà không hề than vãn, không hề càu nhàu. Trước khi rời bỏ thế giới này tất cả điều tôi muốn nói là xin hãy tha lỗi cho tôi; tôi đã không đối xử với người anh em bằng tình người chan chứa.”

Đó là những lời cuối của thánh Francis. Cảm xúc bén nhạy trong lời nói với con lừa, “người anh em”, “xin hay tha lỗi”. Nếu bạn nhạy cảm hơn, cuộc sống sẽ lớn hơn. Nó sẽ không là cái ao nhỏ mà là một đại dương...

Một thiền sư, Linh Chi, đang hấp hối. Hàng ngàn đệ tử vây quanh chờ nghe bài pháp cuối cùng. Nhưng Linh Chi chỉ nằm xuống vui vẻ mỉm cười, không nói một lời. Một người thiền sư bạn cũ nhắc nhở, “Linh Chi, sao thầy quên không nói những lời cuối cùng, trí nhớ thầy không được tốt rồi, thầy đang hấp hối, thầy cố đừng quên.” Linh Chi nói, “Hãy lắng nghe này”… và trên mái nhà, hai con sóc đang chạy nhảy vui đùa. Linh Chi chỉ nói, “Đẹp làm sao” rồi chết. Ngay khi ông nói “Hãy lắng nghe này” thì mọi người im lặng phăng phắc để chuẩn bị nghe những lời vĩ đại. Nhưng chỉ nghe thấy tiếng hai con sóc đùa giỡn cắn nhau chạy nhảy trên mái nhà mà thôi. Vị thầy chỉ cười rồi chết.

Thực ra vị thầy đã gởi đi thông điệp cuối: Đừng phân biệt chuyện lớn chuyện nhỏ, đừng phân biệt cái tầm thường cái quan trọng. Ngay phút giây đó sự kiện Linh Chi chết cũng giống như sự kiện hai con sóc chạy đuổi trên mái nhà. Không có gì khác biệt. Trong hiện hữu, tất cả đều giống nhau. Đây là toàn bộ triết học, toàn bộ sự nghiệp giảng dạy của vị thầy. Chẳng có cái gì lớn chẳng có cái gì nhỏ, tất cả đều tùy thuộc vào bạn...

Osho
Biên dịch - Phạm Doãn 

Bỏ cha mẹ già yếu để đi hành thiền...


Thưa Thầy, Được biết dạo này Thầy thường đi hoằng pháp ở xa, con thường xuyên đọc thông tin trên trungtamhotong và nhận được nhiều thông tin từ các Phật tử đang hoan hỉ được Thầy chỉ dậy. Khi nào Thầy về cho chúng con biết để chúng con lên thăm Thầy. Thầy đi vắng lâu ngày, chúng con ở TP HCM cũng rất nhớ Thầy đấy ạ.

Con xin được báo cáo với Thầy là con đã thực hành được lời Thầy chỉ dậy cách đây hơn 1 năm về việc thực tập lòng từ bi đối với những người thân của mình và từ bỏ oán hận. Cha con mất đã được 1 năm. Trước khi mất, ông đã nói rằng ông rất mãn nguyện với sự chăm sóc của vợ chồng con. Sau khi ông mất, chúng con cũng đã thực hiện nghiêm chỉnh các nghi lễ cần thiết để ông sớm được siêu thoát.

Hiện giờ, con vẫn đang chăm sóc mẹ bệnh. Con không còn cãi lại mẹ hoặc nói những lời nặng nề nữa nên mẹ cũng trở nên hiền hòa hơn mặc dù vẫn trái tính (có lẽ do tuổi già và bệnh tật). Con đã chiêm nghiệm được sự thật là khi mình bình tâm và yêu thương thì đối tượng dần dần cũng tự điều chỉnh. Ôi! lòng Từ bi quả thật hiệu nghiệm. Con xin tri ân Thầy đã dậy dỗ, chỉ bảo con.

Con cũng rất cám ơn người chồng đã giúp con trong suốt quá trình thực tập hàng ngày. Anh ấy như một tấm gương giúp con nhìn lại mình mỗi khi nóng giận với cha mẹ.  Ôi! Phật Pháp quả thật mầu nghiệm!

Trả lời:
Thật tuyệt vời con nhỉ. Yêu thương thông cảm không những giúp ích người khác mà còn giúp ích chính bản thân mình. Lòng từ bi bao gồm nhiều đức tính như kham nhẫn, nhu hoà, hy sinh, khiêm tốn và nhất là vô ngã vị tha. Việc chăm sóc bố mẹ không những là thể hiện lòng tri ân và hiếu thảo mà còn là bài học giác ngộ. Nhiều người bỏ cha mẹ già yếu để đi hành thiền cho mau đắc định, quả là đáng tiếc, vì họ không biết rằng hết lòng yêu thương cha mẹ một cách đúng pháp là đã bao hàm giới định tuệ, bát chánh đạo trong đó rồi, phải không con? Con giỏi lắm, thầy rất hoan hỷ về thể hiện đời sống tuỳ duyên thuận pháp vô ngã vị tha của vợ chồng con. Sàdhu lành thay!

trungtamhotong.org

Phải chăng cuộc đời đã được sắp đặt sẵn rồi?


Mô Phật thưa Thầy! Con có 1 điều băn khoăn là có phải tất cả mọi sự việc trên cuộc đời này đến với mình đều đã được định sẵn, ngay cả việc mình gặp ai, ăn gì,... đều đã được sắp đặt sẵn thưa Thầy? Và việc mình tu là chỉ thay đổi thái độ hay phản ứng với những sự việc đó thưa Thầy có đúng không? Xin Thầy hoan hỷ chỉ dạy cho con.

Trả lời:
Sinh nghiệp (Janaka) của một đời người được hình thành như hậu quả nghiệp nhân quá khứ của người ấy, nên gần như đã được lập trình sẵn, do đó có nhiều Tôn giáo cho là định mệnh đã được an bài. Phật giáo không chủ trương có đấng quyền năng nào đó an bài số mệnh, mà thấy rằng đó là hậu quả tất nhiên của một quá trình gây nhân và gặt quả. Tuy nhiên trong sinh mệnh của mỗi không phải không phải chỉ có sinh nghiệp do quá khứ thôi nên Phật giáo cũng không chủ trương tất cả đều do tiền nghiệp mà còn có sự tác động của nhân (thái độ) và duyên (hoàn cảnh) trong đời sống mới đang diễn ra nữa. Thí dụ một người sinh ra không được thông minh (sinh nghiệp) nhưng siêng năng học tập (thái độ - nhân) và được một vị thầy dạy tận tình (duyên-hoàn cảnh) nên người đó vẫn có khả năng sống đúng tốt và hạnh phúc thay vì đau khổ với tố chất bẩm sinh của mình.

trungtamhotong.org

Tâm hồn thưởng thức thế giới vô tận

15-05-2013


Áng mây bồng bềnh trên vòm trời xanh thẳm, con sóng bạc đầu thì thào trong biển biếc, một thân cây bé nhỏ mọc trước hiên nhà, một đóa hoa tươi thắm nở ven đường, tất cả đều rất đẹp. Nhưng, nếu như thiếu đi một tâm hồn thẩm mỹ, thì cho dù có bao nhiêu cảnh đẹp trước mắt, cũng không thể nhìn thấy.



Chuyện  kể  rằng, một  hôm,  Tô  Đông  Pha cùng Thiền sư Phật Ấn tĩnh tọa tham thiền, khi đứng dậy, Tô Đông Pha quay sang Phật Ấn hỏi:

“Thiền sư, Ngài thấy tôi lúc ngồi thiền giống cái gì?”

“Đại học sĩ giống như một ông Phật”, Phật Ấn trả lời rồi hỏi lại: “Vậy Đại học sĩ thấy ta giống cái gì?”

“Thiền sư ngồi ngay ngắn bất động, giống hệt một đống phân bò”, Tô Đông Pha nói.

Tình bạn  giữa họ  rất thân  thiết,  sâu sắc,  cũng  là những  người cùng sở thích; những  lúc gặp nhau  đối cơ, Tô Đông Pha thường ở thế hạ phong, nhưng không biết sao, lần này đã thắng, họ Tô mừng thầm nghĩ vậy. Sau khi về đến nhà, Tô Đông Pha hớn hở đem chuyện ấy kể lại cho em gái nghe, cứ ngỡ em gái sẽ phục tài đối cơ của mình, nào ngờ em gái nói:

“Anh trai ơi, anh đã bị thua  rồi, lại thua  một cách thê thảm!”

“Anh sao lại thua được?”, Tô Đông Pha không hiểu và gặng hỏi.

“Trong tâm của Thiền sư có Phật, cho nên thấy anh giống Phật”. Em gái họ Tô nói, “Còn trong tâm anh chỉ có phân bò, cho nên thấy ai cũng giống như phân bò”.

Đây là câu chuyện  mặc dù không hẳn đã có thật, nhưng ý nghĩa của nó trái lại rất rõ ràng: người có lòng dạ không ngay thẳng, thì nhìn thấy gì cũng “xiêu vẹo”, mọi người gọi loại người này là “mắt phân bò” (ngưu phẫn nhãn).

Thẩm mỹ là một loại kinh nghiệm đặc biệt, trong mỹ học gọi nó là kinh nghiệm  thưởng  thức cái đẹp  (mỹ cảm), loại kinh nghiệm này dĩ nhiên vắng bặt mọi dục niệm và hoạt động tâm lý suy xét trừu tượng, trực tiếp dùng trực giác cảm nhận đối tượng. Thái độ thẩm mỹ là sự ngắm nhìn diện mạo bên ngoài, không bám víu, không nắm bắt, vừa không mang theo những ao ước chiếm hữu, cũng không đòi hỏi thực dụng.

Nhà mỹ học Trung Quốc Chu Quang Tiềm (1897- 1986) trong cuốn sách Đàm mỹ (nói về cái đẹp) từng đưa cây thông ra làm ví dụ, giải thích rằng cơ quan cảm giác không  thể  hoàn  toàn  khách  quan,  những  hình ảnh và đồ vật mà mỗi người thường nhìn thấy, ít nhiều cũng mang theo  màu sắc chủ quan. Đứng trước một cây thông, mặc dù trong mắt của nhà kinh doanh  vật liệu gỗ, nhà thực vật học, và nhà nghệ thuật, đều thấy đó là một cây thông già, nhưng tri giác (cảm nhận) của ba người về nó lại không giống nhau.

Nhà kinh doanh dùng tâm thái của một người mưu cầu lợi nhuận, những thứ mà anh ta thấy được là kích cỡ, chất lượng, thể tích gỗ, có thể tạo ra bao nhiêu sản phẩm, có thể kiếm được bao nhiêu tiền. Nhà thực vật học thì chuyên  chú vào việc nghiên  cứu học thuật, những thứ mà anh ta nhìn thấy là chủng loại, sinh thái của cây, cả đến  tuổi tác của nó. Nhà nghệ  thuật  thì dường như không quan tâm đến điều gì, ngoài thẩm mỹ; những  thứ mà anh  ta nhìn được chỉ là một  cây thông  già cao vút đứng một mình trơ trọi giữa mênh mông trời đất, những điều mà anh ta liên tưởng là tính cách hiên ngang  kiên cường của một đại trượng phu và phẩm chất cao vời của một bậc quân tử. Cảm nhận của nhà nghệ thuật, vì không mang theo dục niệm và lợi lộc, không giống với thái độ thực dụng  của người thương nhân; và vì không tiến hành suy xét trừu tượng, cũng không giống thái độ khoa học của học giả.


Trái đất là một tinh cầu vô cùng mỹ lệ, trên cõi đời cũng ngập tràn sự vật tươi đẹp. Trời trong mây trắng, non xanh nước biếc; giữa bầu trời có nhật nguyệt tinh tú, trên mặt đất có cỏ biếc hoa hồng; sáng có ánh bình minh rọi, chiều có ráng vàng soi, quả là đẹp  vô cùng! Nhưng với một người không có tâm hồn thẩm mỹ, trước tất cả những cái đẹp đó, anh ta đều không thể nhìn thấy. Nếu như có tâm hồn thẩm mỹ và tuệ nhãn, thì dù cho đối diện với tường vách sụt lở, sương khói mịt mùng, cỏ dại điêu tàn, một người cũng có thể cảm nhận được vẻ đẹp thê lương, khiến cho tâm hồn xao xuyến thương cảm.

Một bậc chính nhân quân tử, nếu như hiểu được thẩm mỹ, lấy tâm hồn thẩm mỹ bao bọc, che chở nhân sinh, dùng nhãn quan mỹ học thưởng  thức thế gian bao la vô tận, thì không chỉ hành tung quang minh lỗi lạc, mà còn tỏa ra thần thái phong lưu nho nhã.

Đời người không chỉ phải sống chân  thật, sống không hổ thẹn với trời đất, mà càng phải sống  cho thật đẹp, có thể đầy đủ chân thiện mỹ, thì sinh mệnh càng thêm sáng sủa, cũng là cảnh giới cao nhất mà đời người có thể hy vọng đạt được.

Nguồn: Thẩm mỹ: Hân thưởng thế giới đích tâm linh
Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 124  | TRƯƠNG  BỒI  CANH | NGUYỄ N  PHƯỚC  TÂM  dịch

Thể nghiệm mà tìm kết luận là gốc của vô minh.

14-05-2013


Thầy kính,
Con đã nghe qua các bài pháp của thầy và con có một thắc mắc xin thầy giải đáp. Theo những bài thầy giảng thì quá trình điều chỉnh hành vi và nhận thức phải thực hiện thông qua sự trực nhận tất cả những gì đang diễn ra trong hiện tại một cách hoàn toàn tự nhiên. Vậy nếu như có những lúc con chiêm nghiệm lại những việc đã xảy ra để rút ra bài học hoặc bỏ thời gian để suy ngẫm tìm ra bài học từ những điều đã quan sát được (có thể ngay lúc quan sát, có thể là sau đó) thì có còn là thiền không ạ? (những lúc ấy con vẫn sáng suốt chứ không đắm chìm). Bởi vì con cảm thấy chỉ quan sát thôi mà thiếu một chút suy ngẫm tìm ra bài học thì nhận thức của mình sẽ không sâu sắc bằng việc đúc kết trải nghiệm. Không biết con nghĩ vậy có đúng không?
Chân thành tri ân thầy!

Trả lời:
Nếu trong quá khứ con đã trọn vẹn trong sáng và thông suốt từng giây phút thì con sẽ chẳng bao giờ cần suy ngẫm lại. Cũng vậy nếu con trọn vẹn trong sáng với thực tại ngay đây và bây giờ thì con không cần tính toán tương lai, bởi hiện tại hoàn mãn thì tương lai cũng hoàn mãn. Nếu chiêm nghiệm có nghĩa là soi sáng sự kiện đang trải nghiệm thì được, còn nếu có nghĩa là suy ngẫm thì coi chừng xen khái niệm, tư tưởng, thời gian và bản ngã vào che lấp sự thật hơn là thấy rõ sự thật.

Trong khi "thấy" con khởi lên ý niệm muốn "biết" thì lý trí xen vào che lấp trí tuệ sáng suốt vốn có của tánh biết tự nhiên. Nhưng con đừng lo, trong sự vận hành tự nhiên của tánh biết khi trực nhận pháp luôn kèm theo tuệ hồi quán (paccavekkhana-nàna) tự thấy rõ tiến trình đã qua mà không cần cái ta suy xét. Chính vì thế mà Đức Phật dạy trong kệ Pháp Cú 72 là:

"Quả thật điều nguy hại
Người ngu sinh sở tri
Hủy phần sáng của mình
Tự chẻ đầu chính nó."

Và kinh Lăng Nghiêm cũng nói: "Tri kiến lập tri tức vô minh bổn" nghĩa là thể nghiệm mà tìm kết luận là gốc của vô minh.

trungtamhotong.org

Buông mọi ảo tưởng mới là xuất gia đích thực.

13-05-2013


Thầy kính mến,
Khi cuộc sống êm xuôi, không có biến cố gì xảy ra, con tưởng như có hiểu và thực hành theo lời dạy của Thầy. Thế nhưng, cho đến hôm nay, khi có những biến cố con mới nhận ra rằng không dễ thực hành theo lời Thầy dạy, mặc dù con hiểu những lời Thầy dạy.

Khi con gặp những chuyện đau khổ, bất trắc, con muốn thoát ra khỏi hoàn cảnh ấy. Rồi con lại nhớ tới lời Thầy dạy:
“Tự do là ung dung trong ràng buộc
Hạnh phúc là tự tại giữa khổ đau”

Hiểu như vậy, nhưng trong lòng con vẫn chất chứa đầy mâu thuẫn, giằng xé. Con vẫn muốn thoát ra khỏi hoàn cảnh ấy, chứ không thể “ung dung trong ràng buộc” như lời Thầy dạy được. Gặp chuyện khổ đâu con mới nhận ra không thể dễ dàng “tự tại” như Thầy nói. Chính vì thế, mà con chợt nhận ra rằng, dường như trên con đường tu tập, con vẫn chưa thực sự hiểu hết lời Thầy dạy, và còn khiếm khuyết nào đó mà con chưa được biết.

Con cũng biết pháp tu Thầy dạy con là  sống thuận pháp tuỳ duyên, vô ngã, vị tha. Nhưng Thầy ơi, con chưa thể tu tập để thoát khỏi cái Ta ảo tưởng. Con học giáo lý, có hiểu về Danh, Sắc, về bản chất thật của vạn vật đều Vô Thường, Khổ và Vô ngã. Chẳng có gì là thường hằng bất biến. Cái gì rồi cũng đưa đến Khổ như chân lý Tứ Diệu Đế mà Đức Phật đã dạy. Chẳng có cái Ta nào cả mà chỉ có vận hành của Danh và Sắc theo nhân quả nghiệp báo mà thôi.

Thế nhưng, khi con gặp khổ đau, con lại bị chìm vào đau khổ. Gần đây, con muốn buông bỏ tất cả, con thấy mệt mỏi Thầy ạ. Con thấy nhàm chán với mọi thứ. Vì vậy, con muốn xuất gia, nhưng con cũng hiểu lời Thầy đã dạy là con phải cho xong bài học duyên nghiệp của mình và không còn vướng nợ trần nữa thì con mới có thể xuất gia một cách thanh thản và trọn vẹn.

Hoàn cảnh của con cũng như chị Như Pháp, còn bổn phận quan trọng phải làm là nuôi con trưởng thành, chưa thể xuất gia. Thầy ơi, vậy biết đến bao giờ mới học cho xong hết bài học duyên nghiệp mà con cần phải học hả Thầy?

Con cũng hiểu rằng, xuất gia không phải là xuống tóc, ở trong chùa, mà là tự nguyện giữ giới sống cuộc đời phạm hạnh. Thế nhưng, con thấy rằng con không thuộc về cuộc sống thế tục này, con muốn sống cuộc sống của một người xuất gia trong chùa Thầy ạ. Thầy ơi, con phải làm sao đây ạ?
Con xin thành kính vô cùng tri ân Thầy!
Con, Minh Nguyên

Minh Nguyên con,
Con nói đúng, về lý thì lý trí con có thể đã hiểu được một số nguyên lý, nhưng chưa thực sự trải nghiệm sự thật, vì vậy về sự còn vụng về, non yếu lắm. Vậy bây giờ chính những “khổ đau, trắc trở” là cơ hội tốt nhất giúp con thân chứng sự thật nơi chính mình và cuộc sống, tại sao con lại muốn lẩn tránh chúng?

Thầy đã nói cảm giác khổ đau và hạnh phúc chỉ là những trạng thái hay những điều kiện của hoàn cảnh, đó không phải là vấn đề, chính thái độ tâm đối với những trạng thái đó mới là vấn đề. Nếu thái độ tâm là tham, sân, si, ngã mạn, tà kiến v.v... thì hậu quả chỉ càng gia thêm khổ đau trắc trở mà thôi. Thái độ của cái ta ảo tưởng đó mới chính là trở ngại. Còn nếu thái độ tâm là sáng suốt, định tĩnh, trong lành tự nhiên vô ngã thì không những con thấy ra sự thật của hoàn cảnh mà nội tâm còn rỗng lặng trong sáng, an nhiên tự tại nữa. Nguyên lý đó thì con đã hiểu, vậy tại sao bây giờ con không thận trọng chú tâm quan sát lại thái độ tâm bên trong mà lại muốn thoát ra hoàn cảnh bên ngoài? Quan sát lại thái độ nội tâm để khám phá xem đó là thái độ của cái ta ảo tưởng hay đó là thái độ hoàn toàn trong sáng vô ngã của tánh biết?

Chính trong hoàn cảnh khổ đau cái ta đối kháng mới dễ dàng lộ diện nên đó là cơ hội để con khám phá ra nó thuận lợi hơn lúc nào hết. Còn khi “cuộc sống êm xuôi, không có biến cố gì xảy ra” thì cái ta thỏa mãn nằm yên đâu có vẫy vùng đối kháng gì mà con phát hiện được.

Thực ra, cũng nhờ thấu hiểu một số nguyên lý mà con đã phát hiện ra cái ta đối kháng ấy, nhưng vì đó là hiểu biết lý trí nên “kẻ phát hiện” cũng là một cái ta lý trí, cái ta này đang muốn thoát ra cái ta đối kháng kia, nên nó vẫn là cái ta đang diễn lại trò đối kháng cũ kỹ mà thôi. Vậy đừng lấy cái ta để đối kháng với cái ta, mà chỉ cần buông cái ta ảo tưởng ra thì tánh thấy vô ngã sẽ thấy pháp rõ ràng trung thực, vì ở đó không có cái ta nào để phản ứng hay tạo tác gì cả.

Có một điều con cần lưu ý là cái ta không bao giờ có thể thật sự tinh tấn chánh niệm tỉnh giác được cả. Vì tinh tấn ở đây có nghĩa là không buông lung phóng dật theo ảo tưởng của cái ta. Nên ngay khi tinh tấn tức buông ảo tưởng cái ta ra thì tâm liền trở về với thực tại, đó là chánh niệm; đồng thời tánh biết không bị che lấp bởi ảo tưởng nào nữa nên ngay đó tỉnh giác liền soi chiếu minh bạch rõ ràng.

Nhược điểm của con là thiếu can đảm để đối diện với nghịch cảnh. Chính cái tâm yếu đuối đầy lo lắng sợ hãi đó sẽ tạo ra ảo tưởng và biến mọi sự thành khó khăn trở ngại. Con luôn muốn bình an và tốt đẹp hơn, nhưng chính ý muốn đó khiến con không can đảm chấp nhận khó khăn gian khổ, mà khó khăn gian khổ là bài học giác ngộ tuyệt vời nhất trên đời. Vậy phải làm sao? Đó là câu hỏi mà chính con mới trả lời cho mình được mà thôi.

Hãy can đảm buông xuống mọi ảo tưởng thì đó mới là xuất gia đích thực. chúc con trả lời được câu hỏi của chính mình.

Thầy Viên Minh
trungtamhotong.org

Giờ nào thuốc nấy


Vũ trụ vận động không ngừng đưa đến khái niệm về thời gian. Cũng từ hoạt động suy nghĩ của con người mà có hai loại thời gian vật chất và thời gian tâm lý.

Thời gian vật chất là thời gian chuyển biến theo tự nhiên gọi là thời gian niên đại hay thời gian đồng  hồ, đó là thời gian tuần  tự ngày rồi đêm  tiếp đến  hết  đêm  là ngày, hết xuân đến hạ rồi thu rồi đông… do trái đất tự quay chung quanh nó và quay chung quanh mặt trời.

Còn thời gian tâm lý là thời gian do sự suy tưởng của con người mà hình thành,  kiểu như “Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại”. Tức là chỉ một ngày đêm thôi nhưng đối với người bị giam cầm trong  ngục tù thì lâu như cả ngàn mùa thu của người sống trong tự do. Nếu suy gẫm sâu sắc ta thấy rằng, thời gian tâm lý có thể gây đau khổ triền miên cho con người. Đến độ có triết gia đã nói: “Thời gian (tâm lý) là nỗi đau…

"Thời gian (tâm lý) giống như một dòng sông đang chảy và trong dòng thời gian này con người bị giam cầm và dằn vặt không nguôi. Nếu không chấm dứt được thời gian (tâm lý) thì không chấm dứt được đau buồn” (Krisnamurti, 1895-1986). Điều này là rõ ràng bởi vì người ta thường không sống an nhiên trong hiện tại mà cứ sống mải mê trong quá khứ của tâm trí hoặc chìm đắm trong vọng tưởng tương lai. Có thể là suy nghĩ đúng đắn chăng khi cho rằng con người chỉ thật sự hạnh phúc nếu tỉnh giác cởi bỏ sự trói buộc của thời gian tâm lý và sống thuận theo thời gian vật chất? Vế thứ nhất của câu hỏi vừa nêu đối với một số người còn phải xem lại chứ vế thứ hai thì cuộc sống và khoa học đã chứng minh là hoàn  toàn đúng  đắn. Xin có đôi điều nói về một lĩnh vực dược khoa đã và đang nghiên  cứu để làm sao “dùng thuốc thuận theo thời gian vật chất một cách tốt nhất”.

Thuốc là sản phẩm  được bào  chế để có hiệu  lực phòng, chữa và chẩn đoán bệnh. Muốn nâng cao hiệu lực của một thứ thuốc, từ lâu và cho tới nay có hai biện pháp chủ yếu được áp dụng: 1. Thay đổi cấu trúc hóa học của thuốc  để tạo ra những  dẫn chất mới có tác dụng tốt hơn; 2. Chọn con đường đưa thuốc vào cơ thể và bào chế dạng thuốc tối ưu để giảm thiểu tác dụng phụ và gia tăng tác dụng điều trị.

Gần đây, khi phát hiện và xác định vai trò các chu kỳ sinh học có trong cơ thể người, đã xuất hiện một biện pháp  khác tỏ ra có nhiều triển vọng trong  việc nâng cao hiệu lực của thuốc. Đó là biện pháp chọn thời điểm cho thuốc để thuốc có tác dụng tốt nhất. Và đó cũng là nội dung nghiên cứu của một lĩnh vực mới của ngành y dược học: Dược lý thời khắc (Chronopharmacologie).

Trước đây, khi nghiên cứu một hiện tượng sinh học trong cơ thể, người ta thường  chú ý nhiều đến tính hệ thống  và tìm cách xây dựng cấu trúc không gian của hiện tượng  đó. Thí dụ, theo  dõi sự hoạt  động  bài tiết của các tuyến nội tiết, người ta tìm cách xác định các hiện tượng nào xảy ra ở cơ quan nào, mô nào, tế bào nào. Tức là chỉ chú ý giải đáp các câu hỏi: “ở đâu?”“thế nào?”. Nhưng các hiện tượng sinh học xảy ra không phải lúc nào cũng giống nhau. Các trạng thái thể hiện có khi nhanh, khi chậm, khi mạnh, khi yếu, khi đạt đến điểm cực đại, khi đạt đến điểm cực tiểu, và câu hỏi: “bao giờ thì hoạt động mạnh, bao giờ thì hoạt động yếu?”… không được các nhà nghiên  cứu quan tâm lắm.

Hiện nay thì người ta đã nhận rõ, những thay đổi của các hiện tượng sinh học trong cơ thể người xảy ra đều đặn và liên tiếp nhau tạo thành chu kỳ gọi là chu kỳ sinh học. Có chu kỳ sinh học ngắn như hơi thở, nhịp đập của tim, có chu kỳ dài hơn như chu kỳ kinh nguyệt của người phụ nữ. Chu kỳ sinh học được nghiên cứu nhiều nhất là chu kỳ ngày đêm gắn liền với chu kỳ ngày đêm của ngoại cảnh, thí dụ như người ta nghiên cứu sự tiết các hormon theo chu kỳ ngày đêm, theo dõi sự bài tiết các chất điện giải qua nước tiểu theo chu kỳ ngày đêm v.v.

Kết quả nghiên cứu các chu kỳ sinh học giúp cho việc xây dựng một cấu trúc mới của cơ thể ngoài cấu trúc không gian, đó là cấu trúc sinh học theo thời gian của cơ thể, trong đó các chu kỳ sinh học liên quan chặt chẽ với nhau tạo thành một thể thống nhất và thể thống nhất này liên quan chặt chẽ với môi trường  bên ngoài.

Trạng thái bệnh lý của cơ thể có thể hiểu là sự biểu hiện rối loạn cấu trúc sinh học nào đó đưa đến rối loạn cấu trúc sinh học theo thời gian. Và tác dụng điều trị của thuốc có thể xem là việc điều chỉnh sự rối loạn này.

Ngược lại, chính cấu trúc sinh học theo thời gian cũng ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc.

Một thứ thuốc đưa vào cơ thể, hiệu lực của nó tùy thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng chủ yếu là do tính dung nạp (nói theo dân dã là tính “hạp’ hay “chịu”) của cơ thể đối với thuốc và sự chuyển hóa thuốc trong cơ thể đưa đến tác dụng.

Về tính dung nạp thuốc (tức là sức chịu đựng của cơ thể đối với thuốc), nếu cơ thể không dung nạp thuốc tốt thì thuốc sẽ có tác dụng  xấu thậm chí có thể gây độc. Nhiều nghiên cứu cho thấy tính dung nạp thuốc của cơ thể cũng biến đổi theo  chu kỳ tương ứng với chu kỳ sinh học trong cơ thể có liên quan. Thí dụ, biết được chu kỳ sinh học của sự tiết adrenalin nội sinh đạt mức tối đa vào lúc 9 giờ sáng trong ngày; như vậy, tiêm thuốc  adrenalin, tức đưa thêm  adrealin từ bên ngoài vào, vào thời điểm này hoàn toàn không có lợi vì cơ thể đã có sẵn adrenalin. Hay như người ta đã nghiên cứu cho thấy độc tính của thuốc  chống  ung thư (tức tác dụng  diệt tế bào ung thư đồng  thời cũng là độc tính đối với tế bào thường) của 5-fluoruracil nếu tiêm vào buổi sáng sẽ mạnh gấp đôi so với buổi chiều, tức là sự chịu đựng của cơ thể đối với thuốc chống ung thư này tốt hơn vào buổi chiều.

Về sự chuyển hóa thuốc, nhiều  thuốc  nếu  được cơ thể chuyển  hóa nhanh  (gan là cơ quan  chủ yếu làm nhiệm  vụ này), tác dụng  của thuốc  sẽ mạnh  nhưng ngắn. Còn chuyển hóa quá chậm, tác dụng  sẽ yếu và kéo dài. Không kể có trường  hợp thuốc  chuyển  hóa chậm có thể tích lũy lại trong cơ thể gây ngộ độc; qua nghiên  cứu người ta nhận thấy sự chuyển hóa thuốc không phải lúc nào cũng giống nhau mà có sự thay đổi theo chu kỳ hàng ngày, lý do là sự chuyển hóa thuốc tùy thuộc vào hoạt động của các enzym gọi là enzym chuyển hóa thuốc (do gan tạo ra). Bản thân các enzym hoạt động theo chu kỳ và cả hệ nội tiết có ảnh hưởng nhiều đến việc điều hòa các enzym cũng hoạt  động theo chu kỳ.

Như vậy, rõ ràng là tác dụng của thuốc có tùy thuộc vào yếu tố thời gian. Cho thuốc đúng lúc thì tác dụng sẽ tốt nhất. Cho thuốc không đúng lúc không những không làm khỏi bệnh  mà có khi có hại vì làm rối loạn thêm cấu trúc sinh học theo thời gian của cơ thể.

Nội dung nghiên cứu chủ yếu của Dược lý thời khắc là xác định thời gian cho thuốc tối ưu cho từng loại thuốc và cả liều thuốc tối ưu dựa trên cấu trúc sinh học theo thời gian của cơ thể. Để xác định thời gian cho thuốc tối ưu, người ta chú ý nhiều đến các chu kỳ sinh học theo chu kỳ ngày đêm và cố gắng làm sáng tỏ cơ chế sinh ra các chu kỳ sinh học này.

Có giả thuyết  cho rằng chính tuyến tùng (glande pinéale) là cơ quan điều khiển các chu kỳ sinh học. Tuyến này đáp ứng với sự biến thiên ánh sáng do tuần hoàn ngày đêm từ bên ngoài tác động vào. Tín hiệu của bóng tối hoặc ánh sáng từ võng mạc của mắt theo  dây thần kinh thị giác về tuyến tùng  sẽ kích thích hoặc ức chế tuyến tùng tiết ra các chất điều khiển các chu kỳ sinh học. Trong các chất ấy, melatonin là chất được biết tương đối rõ.

Người ta đã chứng minh rằng ở một số loài vật, melatonin  được tuyến tùng tiết ra chủ yếu vào ban đêm. Ánh sáng ban ngày tùy theo cường độ sẽ làm giảm hoặc ngưng sự tổng hợp rồi tiếp theo là tiết ra melatonin. Hiện nay, melatonin được bào chế dùng  trị mất ngủ nói chung, trong  đó đặc biệt là những trường hợp mất ngủ vì lệch múi giờ.

Khi đưa thuốc vào trong cơ thể, dược lý thời khắc chú ý đến ba vấn đề:

• Thời động học (chronocinétique):  tức là thuốc  sẽ hấp thụ, phân bố, chuyển hóa, thải trừ theo chu kỳ thời gian như thế nào.

• Thời nhận cảm (chronesthésie): tức là sự đáp ứng của hệ thống đích (là nơi thuốc sẽ phát huy tác dụng) đối với thuốc theo chu kỳ thời gian như thế nào.

• Thời năng động (chronesgie): tức là tác dụng của thuốc, kể cả tốt và xấu, theo chu kỳ thời gian như thế nào.

Cho tới nay, có nhiều  thuốc  được nghiên  cứu để chọn  thời điểm cho thuốc  tối ưu trong  ngày. Thí dụ như thuốc loại glucocorticoid được uống dùng trị hen suyễn thì có khuyến cáo là nên dùng  thuốc vào buổi sáng (thậm chí để hạn chế tác dụng  phụ nguy hiểm của glucocorticoid  mà có khi phải uống  thuốc  cách ngày, tức hai ngày dùng thuốc một lần). Trái lại, thuốc theophyllin  thì khuyến  cáo nên  dùng  vào chiều tối. Đặc biệt đối với thuốc trị ung thư là thuốc có độc tính, khai thác hiện tượng cơ thể nhạy cảm với thuốc không đồng đều trong ngày, các nhà khoa học tìm cách nâng cao hiệu quả điều trị mà cơ thể người bệnh  vẫn chịu đựng  được  những  thuốc có độc  tính  cao. Nói cách khác, nếu chọn được thời điểm cho thuốc  tối ưu thì có thể giảm  được sự độc hại mà không cần phải giảm liều thuốc. Thậm chí, người ta hy vọng rồi đây sẽ còn sử dụng được tất cả những chất trước đây dùng trị ung thư nhưng sau đó phải loại bỏ vì quá độc.

Đối với người sử dụng thuốc, nên lưu ý dùng thuốc theo đúng chỉ định của thầy thuốc hoặc theo đúng bản hướng  dẫn sử dụng  thuốc. Không những  theo  đúng loại thuốc mà còn theo đúng cách uống, đặc biệt theo đúng  số lần, theo  đúng  thời điểm dùng  thuốc  trong ngày. Các nhà  điều  trị không  ngừng  nâng  cao kiến thức về sử dụng  thuốc  và theo  đúng “giờ nào thuốc nấy” chính là tuân thủ “dược lý thời khắc” đang  được phát triển và áp dụng rộng rãi hiện nay ■

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 124 | NGUYỄN  HỮU  ĐỨC

Không cần giữ tâm vắng lặng vì tâm vốn vắng lặng


Thầy ơi, con đang học thuộc và ngẫm nghĩ hai bài kệ Thầy cho, bất chợt con rất vui vì con nhận được hai bài kệ pháp của Thầy, trong khi chư tổ ngày trước mỗi vị chỉ nhận được mỗi một bài kệ truyền pháp.

Trả lời:
Không cần giữ tâm vắng lặng vì tâm vốn vắng lặng. Khi con thận trọng, chú tâm, quan sát thực tại thân-tâm-cảnh một cách tự nhiên thì chính là con đang sử dụng tâm vắng lặng ấy vào những sinh hoạt đời sống. Ngồi giữ tâm vắng lặng thì chỉ là định thôi, còn sử dụng tâm rỗng lặng trong sáng để thấy pháp là trong định có tuệ, trong tuệ có định. Định tuệ đi đôi với nhau mới thấy được pháp tánh, cho nên thầy nói với con là nếu tách hai yếu tố ra riêng để tu thì định sinh trì trệ, tuệ sinh hoài nghi, khó thấy được thực tánh pháp (sabhàva) như nó đang là (yathàbhùtà) của thực tại chân đế (paramattha sacca) mà Thiền Tông gọi là pháp tánh chân như.

trungtamhotong.org

Thấy

Đúng hay sai con vẫn cần thấy rõ,
Pháp duyên sinh như chính nó đang là.
Đối tượng nào mà không do duyên khởi,
Tâm hồn nhiên thấy pháp vẫn hồn nhiên.
Viên Minh

Thiền năng lượng và thiền Phật giáo...

10-05-2013


Con chào Sư. Con đã nghe sư giảng thiền tại Huế. Con rất ngưỡng mộ kiến thức của Sư. Con có một thắc mắc chưa giải đáp được xin nhờ Sư giúp.

Con bị viêm xoang đã 20 năm, chạy chữa nhiều loại thuốc đông, tây y nhưng không khỏi. Cách đây gần 2 năm con đi tập nhân điện thì kết quả rất khả quan. Hai năm nay hầu như con không cần dùng thuốc, chỉ cần thiền nhận năng lượng là có thể ngăn bệnh. Tuy nhiên thiền nhận năng lượng nhiều thì trán hay bị nặng, cảm giác không thoải mái.

Một năm nay con thường đi chùa và hành thiền Phật giáo thì thấy thoải mái hơn. Tuy nhiên bệnh viêm xoang lại trở lại. Con có hỏi một vị sư và được giải thích là khi con thiền nhân điện thì trán nặng do chú tâm mà thôi. Sư có thể giúp con giải thích về hiện tượng này không?

Thời gian này con muốn trở lại thiền nhân điện để trị bệnh nhưng cảm nhận khó nhận được năng lượng như trước đây. Lúc thời tiết thay đổi con lại bị viêm xoang trở lại. Mong nhận được hồi âm của Sư. Cám ơn Sư.

Trả lời:
Nếu tập phương pháp thu năng lượng mà chữa được bệnh thì con cứ xem như đó là một cách chữa bệnh, mà phương pháp trị liệu nào cũng đều có phản ứng phụ, nên chỉ tương đối thôi. Còn thiền Phật giáo thì chỉ có mục đích thấy ra lẽ thật nơi chính mình và cuộc sống để không còn bị đắm chìm trong tà kiến và tham ái. Tính chất đời sống là vô thường, khổ, vô ngã nên nếu điều gì che lấp sự thật này thì đều không tốt, dù cho lúc đó có được mạnh khỏe, sung sướng thì vẫn chìm trong vô minh ái dục, luân hồi sinh tử, vì vẫn còn bị chi phối bởi tính chất vô thường, khổ, vô ngã ấy.

trungtamhotong.org

Còn nắm giữ thì còn phiền não khổ đau


Thưa thầy, xưa nay cảnh vật, con người luôn thay đổi liên tục, nhưng ta lai đem cái bản ngã nhìn mọi vật nên không theo kịp sự thay đổi, dần dần tạo thành thói quen và thành kiến. Để theo kịp sự thay đổi chỉ có chánh niệm, tỉnh thức, khi đó sẽ thấy sự vật đúng mà không cần bản ngã xen vào, những lúc như thế con thấy không dính mắc gì, mà không dính mắc thì không tạo nghiệp, tâm sẽ không bị ràng buộc, không tạo mầm mống phiền não trong tiềm thức. Con muốn hỏi thầy xem con thấy đúng không a, con tu tập mà chưa tìm được một vị thầy, với con còn trẻ nữa, con rất thích nghe thầy thuyết pháp, tiếc là thầy ở xa, con chưa có duyên để gặp thầy mong thầy nhiều sức khoẻ ạ!

Trả lời:
Con tuy xa thầy mà lại gần, vì con đã thấy đúng và sống đúng như những gì thầy nói. Chỉ vì nhiều người không thấy ra điều này mà cứ mãi đem cái ngã để tu, để hành, để biết, để đắc... để rồi cứ loay hoay trong sinh tử mà tưởng đã "nắm" được lý tưởng của mình, ngờ đâu còn "nắm" là còn phiền muộn khổ đau. Chúc mừng con.

trungtamhotong.org
 

2011 ·YENLANG•NET | Design by TNB